Pháp Chân Thật - Kim Cang Thừa


GAMPOPA

OSHO

Trungpa

NAROPA

Mahamudra

Kalachakra

Kalachakra II

GiáoLư DaKini

Giáo Lư Bardo

Bồ Tát Hạnh

Tâm Ánh Sáng

TánhGiácLộToànThân

Trí Huệ ThẩmThấu

Con Mắt Băo

Sùng Kính Thầy

Các Vị Chân Sư 

Phô Diễn Tự Tánh

Nh́n Bạn Như Là

Bài Học Yêu Thương

ChuKỳ Ngày-Đêm

Mỗi Ngày

Nói Về Tỉnh Thức

Nỗi Sợ Hăi Căn Để

Những Chữ Vàng

Thực Hành Thế Nào

Tâm Vượt Khỏi
Tử Thần

Thượng Đế
Tại Đây

Giải Thoát
Tự
Nhiên

PHẬT TÂM

Hoang Sơ
Bừng Tỉnh

Dhammapada

Trung Đạo

Nhẹ Nhàng Hướng Về Sự Tỉnh Thức

Những PhụNữ
Trí Huệ

Một Phút Hài Hước

Một Phút Minh Triết

Tử Thư Tây Tạng

Đại Tâm Thức Nghĩ Ngơi

Lối vào Thực Tại

Con Đường TỉnhThức

Chod Mahamudra

Kho Tàng Tâm

Như Một Chúc Thư

Viên Ngọc Như Ư

Luyện Tâm 7 Điểm

Đại Toàn Thiện

Những lời Khai Thị

Lời chân Lư

m Trượng Phu

Sự Tỉnh Thức

Như Một Giấc Mộng

Như Trời - Như Biển

Con Đường Tỉnh Lặng

 Góp Nhặt

Ḷng Bi Bao La

Nghi thức

MOTHER THÉRÉSA

HERUKA VAJRASATTVA

Kim Cang Giới

KỳNguyệnHươngLinh

Cây Giác Ngộ *

Thực Hành
PHẬT PHÁP

 Thơ Văn Mây Trắng

PHẬT GIÁO *

Truyện Ngắn Trên Mạng *

Mục Tham Khảo


Mục Tản Mạn *


Link Liên kết
Thai Cực Quyền


Ḥm Thư Lưu Trữ


Dấu * chỉ đề tài mới & đang

 
    Padmasham  
 
 


Dalai Lama
Nói Về Tỉnh Thức
The Dalai Lama' s
Book Of Awakening

Evam
Phỏng dịch
Karunasham
Hiệu đính
Lưu hành nội bộ

 
 
 

   
   

Nội Dung

Lời  tựa *

I-
Giới thiệu Tứ diệu đế  
*

II-
Sự thực của đau khổ 
*

III-
Sự thực về nguồn gốc đau khổ
*

IV-
Sự thực về sự chấm dứt.
*

V-
Sự thực con đường
*


Lời Tựa

Tứ diệu đế là nền tảng kinh điển của Phật pháp . V́ thế giáo lư này rất  quan trọng . Thực vậy , nếu bạn không hiểu thấu suốt về Tứ diệu đế . Nhất là không trải nghiệm cá nhân về chân lư Bốn Sự Thực Tuyệt Đối . Chắc chắn sẽ không thể ứng dụng con đường thực hành giáo huấn vào cuộc sống . V́ thế tôi rất hân hoan khi có cơ hội được giải thích về giáo lư này . Nói chung ,  tôi tin tất cả tôn giáo trên thế giới đều có đủ tiềm năng để phục vụ nhân loại . Nhất là có thể nhân rộng thêm những con người tốt lành . Tôi không nói về cái đẹp hay sự dễ thương bên ngoài . Tôi muốn nói họ có được tấm ḷng tốt và hoàn toàn tử tế với nhau . Đó là lư do tôi thường nói rằng : Mỗi người nên giử và tuân theo tôn giáo riêng chính ḿnh . V́ mỗi lần thay đổi tôn giáo , bạn có thể chỉ t́m thấy nhưng khó khăn về sự rung động hay hiểu  biết . Thí dụ : Văn hoá tôn giáo truyền thống ở  phương Tây là Thiên chúa giáo . Tốt nhất là bạn nên tuân theo những ǵ thuộc tôn giáo của bạn .

Tuy nhiên ,  với những ai thực sự cảm nhận . Tôn giáo riêng cũng không thể có ảnh hưởng hay tác dụng ǵ về phương diện tâm thức . Với những người theo chủ nghĩa vô thần cũng thế . Con đường Phật học có thể giải thích và làm sáng tỏ những sự việc nào đó trong tâm thức . Như thế , cho dù như thế nào vẫn tốt cho chúng ta khi chọn đi trên con đường Phật giáo . Nói chung ,  tôi nghĩ dù sao đi nữa nếu có một tôn giáo để học hỏi vẫn tốt hơn không có .

Nếu thực sự bị thu hút sau khi tiếp cận Phật học và quyết định ứng dụng tâm thức vào thực hành . Vấn đề quan trọng nhất là : Nên suy nghĩ cẩn thận . Chỉ khi nào thực sự cảm nhận con đường hoàn toàn phù hợp với ḿnh . Đây là điều rất tốt để quyết định chấp nhận và thực hiện con đường như một tôn giáo riêng . Nhưng có điểm rất quan trọng bạn nên biết là : Bản tính tự nhiên con người thường biện hộ để măi chạy theo tôn giáo thời thượng hay vị thầy đang được mọi người hâm mộ . Chúng ta sẽ phê phán tôn giáo củ và cho là không tương xứng hay đầy đủ . Điều này không nên để xảy ra .

Thứ nhất :

Mặc dù tôn giáo bạn đang có theo không giúp ích được ǵ . Nhưng như thế không có nghĩa hay hoàn toàn vô giá trị với những người  khác . V́ vậy , nên tôn trọng tất cả mọi người cũng như tôn trọng con đường người khác đi . Vă lại , tôn giáo của bạn từ xưa đến nay có sức mạnh giúp đở một số người . Một điều không thể phủ nhận . Một số người Thiên chúa giáo sau khi tiếp cận Phật giáo đạt được hiệu quả hơn ngay cả người trong Phật giáo . Điều này tuy cá biệt và tùy thuộc vào mỗi một người . Do đó , phải biết ơn sức mạnh tất cả tôn giáo và biết tôn trọng con đường họ đang theo .

Thứ hai :

Hiện giờ có nhiều tôn giáo trên thế giới . Và hầu như mọi người đang cố gắng tiến đến sự hài ḥa giữa các tôn giáo . Tôi nghĩ , hiện nay có rất nhiều nhóm trao đổi tôn giáo và các tư tưởng làm lợi ích cho tôn giáo đang được cắm rể . Đây là một dấu hiệu đầy dũng cảm . Vào thời điểm , con người tăng tiến hiểu biết tôn giáo một cách chân thực . Tuy nhiên , sự phê b́nh của một vài cá nhân có thể làm tổn hại đến hạnh phúc của người khác . Thế nên , trên nền tảng này . Chúng ta nên ǵn giử sự thiêng liêng và biết tôn trọng những tôn giáo khác nhau .

Tôi khởi đầu bằng quan điểm này . V́ muốn giải thích về Tứ diệu đế . Tôi phải minh chứng con đường phật giáo là tốt nhất . Nếu các bạn hỏi tôn giáo nào tốt nhất cho tôi . Câu trả lời không một chút do dự hay ngần ngại : Đó là Phật giáo . Nhưng nói thế không có nghĩa Phật giáo tốt nhất cho tất cả mọi người . Không hẳn như thế . Do đó trong những đoạn giải thích . Khi tôi nói : Tôi cảm nhận con đường Phật giáo là tốt nhất . Xin các bạn đừng hiểu lầm .

Tôi nhấn mạnh thêm vấn đề này khi nói : Tất cả tôn giáo đều có sức mạnh phi thường . Không có nghĩa tôi bằng tính cách lịch sự hay ngoại giao . V́ dù chúng ta thích hay không thích . Toàn thể  nhân loại không thể nào là người theo Phật giáo . Đây là điều rất rơ ràng.  Tương tự ,  toàn thể nhân loại cũng thể nào là người theo Thiên chúa giáo hay Muslim . Chính ngay vào thời đức Phật , toàn thể dân số Ấn độ cũng không thể nào là người theo Phật giáo .

Tuy tôi không đọc nhiều về những giáo huấn thuộc tôn giáo khác . Nhưng tôi thường gặp gở với những người chân chính thực hành từ những truyền thống khác . Chúng tôi cùng nhau trao đổi về những trải nghiệm tâm linh sâu  sắc . Đặc biệt là trải nghiệm về ḷng tử tế .  V́ , tôi kết luận : Những tôn giáo khác nhau đều có tiềm năng lớn để khai mở ḷng tử tế . Cho dù thích hay không thích triết học của các tôn giáo khác . Thực sự , vấn đề này không không phải là mấu chốt .

Ví như : Đối với người không thuộc về hệ thống Phật giáo những tư tưởng về Niết bàn và những quan kiến về cuộc sống được xem là vô lư . Tương tự , đối với theo Phật giáo tư tưởng về sự sáng tạo của Chúa dường như vô nghĩa . Thực sự những điều này không phải là vấn đề quan trọng và chúng ta có thể buông bỏ . Vấn đề là : Xuyên qua các truyền thống khác nhau . Những người rất tiêu cực vẫn có thể chuyển hóa thành những người tốt hay hoàn toàn tích cực . Đó mới là mục đích của tôn giáo . Đó mới là kết quả khả quan . Đó cũng là lư do đầy đủ nhất để chúng ta tôn trọng tôn giáo khác .

Cuối cùng :

Đức Phật đă đề nghị rất nhiều phương pháp . Có lẻ v́ thế Phật giáo có nhiều hệ thống giáo thuyết khác nhau . Mỗi một trường phái trích dẫn một phần những lời Đức phật từ kinh điển . Chúng ta có thể tự hỏi : Nếu Đức phật dạy nhiều phương pháp khác nhau như thế . Như vậy , có vẻ phải ngay cả chính ngài không quyết định một con đường xác thực sự . Không thể xác định như thế . Sự thật v́ thấu hiểu tính khí ( biệt nghiệp ) mỗi người đều có sự khác biệt . Nên vấn đề chủ yếu là cần có những phương pháp khác nhau để phù hợp từng dạng thức tương đồng .

V́ giáo lư hay phương thức ngài đề nghị dùng để giúp đở những người khác không phải là để nổi tiếng . V́ thế Ngài dạy đưa ra những ǵ sẽ phù hợp theo cá tính của người đang lắng nghe . Như thế có nghĩa giáo thuyết của đức Phật là : Phải biết tôn trọng quan niệm và quyền lợi của từng cá nhân . Bằng không , giáo lư tuy rất thâm sâu . Nhưng nếu dạy không phù hợp với người học . Th́ đâu là lợi ích của họ ? .

Có thể nói : Pháp thực hành của đức Phật là phương pháp trị bệnh tâm thức của con người . Nhưng vấn đề không tùy thuộc vào giá cả . Như một toa thuốc rất quư hiếm và đắt tiền . Nhưng nếu không chửa đúng bệnh sẽ trở thành vô ích . V́ thế , nếu có rất nhiều dạng tâm thức con người trên thế giới củng cần có nhiều tôn giáo khác nhau . Hăy cho phép tôi đưa ra một thí dụ : Vào khoảng năm 70 một kỹ sư Ấn Độ thể hiện sự mê thích mănh liệt Phật giáo . Cuối cùng trở thành một nhà sư . Ông thật sự chân thành và rất dễ thương .

Vào một ngày , tôi giải thích về Vô ngă làm ông hoàn toàn kinh hăi và run sợ . Nếu cho rằng không có linh hồn . Thế th́ sau này sẽ ra sao ? . Ông cảm thấy hụt hẩng và đánh mất nền tảng . Ông thực sự rất hoang mang . Tôi phải trải qua một thời gian dài để giải thích ư nghĩa về Vô ngă . Từ từ sự kinh hăi của ông mới từ từ suy giảm . Đối với những người  như thế , theo tôi : Trước tiên họ cần thực hành giáo lư về hữu ngă hay bám víu vào ḷng tin vào có linh hồn . Nếu ư thức về quan điểm này . Chúng ta sẽ dễ tôn trọng và biết ơn giá trị của tất cả mọi truyền thống hơn của riêng ḿnh .

Nền Tảng Cơ Bản
Của Phật Giáo

Giờ tôi xin giới thiệu với các bạn về : Hai nền tảng cơ bản của Phật giáo :

1-
Nền tảng đầu tiên :
Bản thể nguyên thủy về sự tương tác trong thực tại .

Toàn bộ triết học Phật giáo đều dựa vào sự hiểu biết sự thực cơ bản này .

2-
Nền thứ hai :
Bất bạo động .

Hành động thọ nhận của những người đă có quan kiến thấu suốt về bản thể tương tác nguyên thủy trong thực tại . Ở đây bất bạo động có nghĩa : Chúng ta cần làm những tốt nhất để giúp đở người khác hay ít ra cũng không làm phương hại đến họ . Trước khi giải thích chi tiết về Bốn sự thật tuyệt đối - Tứ diệu đế . Tôi đề nghị cùng nhau vạch ra những điểm chính về hai căn bản này .

Quy Y
&
Phát Bồ Đề Tâm

Đầu tiên xin giới thiệu nguyên lư này theo thuật ngữ Phật  học . Chúng ta chỉ có thể trở thành một Phật tử sau khi quyết định Quy Y Tam Bảo và Phát Bồ Đề Tâm . Nhất là nên hiểu biết một vài điều như : Sự cảm thông và có được tấm ḷng tốt . . . Tam bảo theo Phật giáo là : Phật – Pháp – Tăng . Đây là ba phương diện rơ ràng về tư tưởng cần phải giúp đở người khác . Thực hành Phát Bồ Đề Tâm là cam kết thật sự và hoàn toàn rơ ràng về những hoạt động làm lợi ích cho mọi người . Trong khi đó , Quy Y Tam Bảo thuộc về nền tảng thực hành những ǵ tạm gọi là giới luật ; để tránh những hành động làm tổn hại đến người khác . Nhất là tôn trọng định luật vận hành của nghiệp quả .

Ngoại trừ đă trải nghiệm tốt về thực hành Quy Y Tam Bảo . Nếu không , chúng ta không thể đủ khả năng nhận thức được tŕnh độ cao là Bồ Đề Tâm . Đó là sự khác biệt trong thực hành giữa người thuộc về Phật giáo và không  phải Phật giáo . Có nghĩa : Tất cả cá nhân cần dựa vào căn bản đă Quy Y hay không . Tuy nhiên , khi nói về quy y tam bảo . Không nên nghĩ chỉ đơn thuần tham dự một buổi lễ với vị thầy hay được truyền giới qua một buổi lễ nào đó là trở thành Phật tử .

Hệ thống Phật giáo tuy có những buổi thể hiện nghi thức Quy Y Tam Bảo . Nhưng nghi thức này vẫn chưa phải là vấn đề chính . Điểm chính yếu là kết quả từ những ǵ được trải nghệm riêng và bạn tiếp tục duy tŕ măi về sau kể cả khi vị thầy không hiện diện . Vào lúc ấy , mới có thể nói : Bạn hoàn toàn xác tín giá trị của Phật – Pháp - Tăng . Cũng có nghĩa , bạn đă thực sự Quy Y và Phật – Pháp – Tăng trở thành đối tượng Quy Y Tối Hậu . Nói cách khác , nếu c̣n bất cứ nghi ngờ nào dấy lên trong tâm thức cho dù thật nhỏ với đối  tượng Quy Y . Bạn được thọ nhận buổi lễ quan trọng và tốn kém đến đâu đi nữa . Chính tâm nghi sẽ ngăn chận bạn thực hành Pháp . V́ thế cần phải thấu hiểu tại sao cần phải Quy y và đối tượng nào bạn sẽ Quy y .

Khi nói về đức Phật trong bản văn này . Chúng ta không chỉ hạn chế sự hiểu biết trong những ǵ thuộc về lịch sử như : Một người đến từ Ấn độ dạy con đường tâm linh trong cuộc sống . . . Tốt hơn , sự chúng ta phải lănh hội về Pháp tánh dựa vào tŕnh độ nhận thức hay tâm thức rơ biết . Chúng ta nên hiểu Phật tánh là : Trạng thái thiêng liêng con người . V́ thế , đây là lư do trong các bản văn Phật học thường nói về Phật quá khứ - Phật hiện tại và Phật tương lai .

Câu hỏi tiếp theo : Đức phật trở thành người như thế nào ? . Và làm thế nào con người có thể thức tỉnh toàn diện ? . Khi nói về Phật tánh . Chúng ta thường mắc kẹt với câu tự hỏi : Ḿnh có hay không thể đạt đến con người  thức tỉnh toàn diện như đức Phật . Mấu chốt được dùng ở đây đặt để vào sự rơ biết tường tận bản thể nguyên thủy của Pháp .  Nếu thực sự Pháp hiện diện . Chắc chắn Tăng sẽ tự h́nh thành . V́ Tăng là người đi trên con đường của Pháp sau khi đă nhận định xác thực về chân lư giải thoát khổ . Những vị Tăng đạt đến trạng thái thiêng liêng là v́ : Họ đă vượt thoát khỏi những cảm xúc thô thiển tiêu cực và phiền năo . Họ đă trải nghiệm ảo cảnh phù du của hiện tượng và giải thoát toàn bộ cảm xúc phiền năo . Trạng thái này được gọi là Phật tánh .

Trong ngữ văn hiện diện . Tôi nghĩ chúng ta cần phân biệt cách dùng thuật ngữ Dharma hay Pháp như thuật ngữ chung , áp dụng rơ ràng trong khuôn khổ Quy Y . Nói chung ,  dùng để tượng trưng cho Pháp hay những lời dạy của đức Phật . Nhất là sự rơ biết  tâm linh dựa vào những kỹ thuật thực hành theo giáo  lư . V́ thế , Quy Y hàm chứa hai phương diện liên hệ rất mật thiết :

 1-
Thứ nhất :

Con đường sáng tỏ ;

Làm thế nào có thể chấm dứt đau khổ và phiền năo .

2-
Thứ hai :

Hành động để chấm dứt đau khổ .

Thế nên , Pháp là rơ biết con người cần hiểu biết để quyết định chấm dứt khổ và ứng dụng con đường đưa đến chấm dứt sự đau khổ . Có thể từ đây chúng ta thấu hiểu trạng thái của giải thoát .

Nguồn Gốc Của
Sự Phụ Thuộc

Trong kinh điển , rất nhiều lần đức Phật đă minh chứng : Bất cứ ai nhận thức được tính nguyên thủy phụ thuộc trong thực tại là nh́n thấy Pháp . Bất cứ ai nh́n thấy Pháp có nghĩa đă nh́n thấy Phật . Theo cách nh́n của Nagarjuna - Trường phái Madhyamaka . Từ sự gợi ư của minh chứng này . Chúng ta dễ dành lănh hội bằng sự rơ biết và sáng tỏ . Nếu bạn cho rằng tôi có khuynh hướng nghiêng về quan kiến của Nagarjuna . Tôi hoàn toàn chấp nhận sự phán xét này . Theo tôi , những người t́m hiểu và nghiên cứu về Nagarjuna sẽ nhận ra ba vấn đề :

Thứ nhất :

Sự hiểu biết về nguyên lư nguồn gốc phụ thuộc - Pratiyasamutpada . Những trường phái Phật học thường giải thích : Pratit = Phụ thuộc và Samatpada = Nguồn gốc . Có nghĩa  mọi vấn đề hoặc những biến cố trong vũ trụ đến với con người . Tất cả do kết quả nhiều nguyên nhân và điều kiện tương tác . Đây là điều đáng chú ư bởi v́ nguyên lư này sẽ loại trừ hai quan điểm :

 a)
Quan điểm 1 :

Cho rằng mọi hiện tượng xuất hiện không xuất phát từ đâu ;
Cũng không có nguyên nhân và điều kiện . . .

b)
Quan điểm 2  :

Tất cả hiện tượng xuất hiện đều do một Đấng sáng tạo duy nhất .

Hai quan điểm này hoàn toàn bị  phủ nhận.

Thứ hai :

Chúng ta hiểu nguyên lư tính phụ thuộc theo từng mảnh vụn và tổng thể  . Đối tượng vật chất có thể được hiểu như : Một tổng thể kết hợp bằng nhiều bộ phận nhỏ như thế nào và tổng thể phụ thuộc vào sự hiện hữu từng bộ phận tách rời . Tương tự ,  một thực thể không thuộc về vật chất . Chẳng hạn như sự rơ biết có thể xem như tính liên tục của thời gian . Khái niệm về tổng thể căn cứ vào tính liên tục sự tiếp diễn - Liên tục tính không gián doạn . Về vũ trụ , chúng ta không nh́n thấy mỗi một sự vật điều mang tính phụ thuộc . Nên biết rằng : Tất cả hiện tượng xuất hiện trong thế giới đều tùy thuộc vào nguyên lư nguồn gốc phụ thuộc .

Thứ ba :

Ư nghĩa nguồn gốc phụ thuộc là  : Tất cả sự và những biến cố muốn xuất hiện phải có rất nhiều nhân tố để h́nh thành kết quả . Khi phân tích moị sự vật bằng cách phân chia thành những bộ phần  nhỏ . Bạn đi đến nhận biết tính phụ thuộc từ những  nhân tố khác nhau để h́nh thành . Do đó  , bất cứ hiện tượng nào cũng không thể riêng biệt độc lập . Bất cứ tính đồng nhất nào chúng ta đưa ra đều tùy thuộc vào sự tương quan giữa nhận thức và thực thể . Tuy thế không muốn nói là : Tất cả sự việc không hề hiện hữu hay tồn tại . Giáo thuyết Phật học không phải là thuyết hư vô . Vấn đề ở đây là : Vạn vật đều hiện hữu nhưng không có thực thể và tồn tại độc lập . Bây giờ , quay lại những ǵ đức Phật đă minh chứng : Nhận ra nguồn gốc phụ thuộc sẽ nhận ra Pháp . Có khái niệm khác nhau về Pháp liên quan đến ba ư nghĩa nguồn gốc phụ thuộc .

1-
Tính độc lập ngẫu nhiên phát triển qua sự hiểu biết sâu sắc về tính tương quan của thực tại . 

2-
Chúng ta có khả năng hiểu rơ sự vận hành những ǵ được gọi là nghiệp .

3-
Nghiệp lực những ǵ được h́nh thành do nhân quả bị khống chế qua hành động của con người .

Quy luật này giải thích sự trải nghiệm đau khổ dấy lên do hành động , tư tưởng và cách hành xử tiêu cực . Chẳng hạn như kinh nghiệm về cảm xúc ham muốn , hạnh phúc , vui vẻ dấy lên như kết quả của nhân và quả liên hệ đến hành động , cảm xúc và tư tưởng như thế nào .

Phát triển sự hiểu biết sâu sắc về nguồn gốc phụ thuộc . Độc lập không chủ định cung cấp cho bạn sự sáng tỏ cơ bản để đi vào tính nguyên thủy của thực tại . Khi nhận thức được vạn vật chúng ta nhận thức và trải nghiệm dấy lên như là kết quả do sự tương quan xảy ra qua nhân và quả . Toàn bộ quan kiến của bạn lập tức thay đổi . Cách nh́n trải nghiệm nội tại riêng bạn và thế giới rộng lớn là : Bắt đầu nh́n vạn vật theo nguyên lư tự nhiên . Một khi đă tăng tiến dạng thức cách nh́n minh triết . Bạn có khả năng thấu hiểu biết nghiệp lực . Tương tự , khi hiểu sâu về hai chiều cuả nguồn gốc phụ thuộc :

1-
Sự độc lập của từng mảnh vụn và tổng thể
.

2-
Tính tương quan giữa nhận thức và hiện hữu .

Quan kiến cuả bạn ngày càng sâu sắc hơn và thấu hiểu giá trị của con đường : Vạn vật tự xuất hiện với bạn và con đường như chúng thực sự là . . . Chẳng hạn như : Bất cứ  điều ǵ xuất hiện . Một số dạng thức có tính chất ngẫu nhiên xác thực ngay tại đó  . Nhưng thực sự vẫn không đúng với tính tự nhiên có thực của thực tại . Khi nhận thức rơ sự không tương ứng cơ bản giữa xuất hiện và tính xác thực . Bạn gia tăng sự rơ biết phương thức cảm xúc vận hành và sẽ phản ứng lại những ǵ thuộc sự kiện và đối tượng . Cơ bản , cảm xúc mạnh liên quan đến những trường hợp chúng ta nh́n thấy .

Phản ứng cảm xúc cơ bản mănh liệt chúng ta nh́n thấy và cho rằng : Thực thể đang hiện hữu có tính cách độc lập . Trong trường hợp này , chúng ta nên phát triển sự sáng tỏ về sự vận hành khác nhau cuả tâm và cấp độ khác nhau về rơ biết từ bên trong . Cũng có thể chúng ta gia tăng sự hiểu biết nhiều dạng thức trạng thái cảm xúc dường như có thực và các đối tượng xuất hiện quá sinh động . Nhưng trong thực tế chúng chỉ là ảo cảnh .  Và không hề hiện hữu trong phong cách chúng ta nghĩ .

Xuyên qua dạng thức phản chiếu và phân tích . Chúng ta có khả năng gia tăng thấu hiểu được bên trong sự vật . Thuật ngữ Phật học gọi là : Nguồn gốc của đau khổ . Hay nói một cách khác : Những trải nghiệm cảm xúc dẫn chúng ta vào sự rối loạn lầm lẫn và tạo thành sự phiền năo của tâm thức . Khi những điều này phối hợp với : Tính sáng tỏ nguyên thủy tương tác trong thực tại thuộc tŕnh độ vi tế nhất . Chúng ta sẽ có khả năng gia tăng sự sáng tỏ được gọi là : Tính tự nhiên trống không của thực tại . Có nghĩa : Mỗi đối tượng hay bất cứ biến cố nào xuất hiện . Đó chỉ là những ǵ được phối hợp bằng nhiều nhân tố . Nên không thể độc lập hiện hữu . Sự sáng tỏ đi vào tính không sẽ giúp chúng ta thấu hiểu : Bất cứ quan điểm nào h́nh thành . Chúng ta phải biết nh́n ngược lại . Cũng như , quan niệm vạn vật hiện hữu có tính cách độc lập và thực chất hoàn toàn lầm lẫn .

Hiện tượng thường được hiểu sai lầm về tính tự nhiên của thực tại . Khi nhận thức được vạn vật vốn không có giá trị nền tảng trong thực tế kể cả trong sự trải nghiệm vững chắc . Trong khi bản thể nguyên thủy trống không thực tại có cơ sở vững chắc trong trải nghiệm . Từ đó chúng ta thấu hiểu : Sự kiện này có thể đi đến nhận biết : Những ǵ thuộc về lẩm lẫn hoàn toàn bị loại trừ . Có thể nói : Đây trạng thái chấm dứt khổ và nguyên nhân đau khổ . Bằng những lời rất trong sáng Chandrakirti minh chứng :

Nếu thừa nhận tính không . Chúng ta sẽ chấp nhận thế giới có nguồn gốc tương tác và mối liên hệ nhân quả giữa đau khổ và nguồn gốc đau khổ và có liên quan mật thiết  . Khi chấp nhận được điều này . Chúng ta cũng thấu hiểu và chấp nhận t́nh trạng có thể hay có khả năng đi đến sự chấm dứt đau khổ và nguyên nhân đau khổ . Nếu có thể thực hiện được điều này cũng có thể chấp nhận : Nhận thức của cá nhân nhận thức có thể biến thành trạng thái hiện thực nào đó . Cuối cùng , nhận thức được đức Phật thực sự là người thực toàn thiện trạng thái cuối cùng .

Mấu chốt ở chỗ . Cần khai mở sự hiểu biết sâu sắc nguyên lư về nguồn gốc phụ thuộc . Chúng ta có thể hiểu chân lư về nguồn gốc vi tế của đau khổ và làm sao để chấm dứt khổ. Đây là ư những ǵ đức Phật đă minh chứng : nếu hiểu rơ nguồn gốc phụ thuộc sẽ nh́n thấy Pháp . Từ đây chúng ta có khả năng nhận thức : Tăng là những người thấu triệt nguyên lư và đă hoàn thiện trải nghiệm trạng thái như những trạng thái của chư Phật . Và cuối cùng , chúng ta đi đến sự rơ biết trạng thái Phật hay Phật tánh thực sự có ư nghĩa ǵ .

Hai Chân Lư

Với mục đích khai mở sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế hay Bốn Sự Thực Cao Quư . Theo tôi nghĩ điều cần nhất các bạn nên làm quen với hai chân lư : Tương đối và tuyệt đối . Giờ đây , các bạn hay giử trong tâm những điều giải thích về : Bốn Sự Thực Cao Quư theo cách nh́n tương đối và tuyệt đối của trường phái Trung đạo – Madhyamaka . Tuy nhiên , khái niệm về hai chân lư đă từng hiện diện trong những trường Phật giáo khác . Kể cả trong triết học Ấn độ . Riêng trong bản văn này tôi chỉ rút ra từ quan kiến của Madhyamaka .

Chúng ta nên phát triển sự hiểu biết riêng ḿnh về hệ thống  Phật giáo . Cơ bản về hai sự thực như thế nào ? . Qua nhận thức về kinh nghiệm đời sống hằng ngày . Điều ǵ làm chúng ta rơ biết về thế giới thực tại tương đối - Samvaharasatya . Đây là căn bản cho định luật nhân quả vận hành . Sau đó có thể chấp nhận bản thể nguyên thủy trống không của thế giới quan kiến Phật học gọi là : Chân lư tuyệt đối – Paramarthasatya . Hai nguyên lư về thực tại có sự liên hệ tương tác rất mật thiết có thể nói là một mà hai ; hai nhưng là một . Có nghĩa : Thế giới tương đối không hề đối nghịch với thế giới tuyệt đối . Tất cả đều như những ǵ tự phô bày từ nền tảng tính nguyên thủy tối hậu của thực tại . Chỉ khi nào bạn lănh hội bằng trải nghiệm về tính nguyên thủy . Nhất là về mối quan hệ của hai chân lư . Ngay lúc ấy bạn nhận thức trọn vẹn ư nghĩa Tứ Diệu Đế . Một khi đă thấu hiểu Bốn Sự Thật Cao Quư . Có nghĩa bạn đầy đủ nền tảng vững chắc để nhận thức tốt về ư nghĩa Quy Y Tam Bảo .


   
 

Trở về đầu trang

   

Webmaster@maytrang.org