Pháp Chân Thật - Kim Cang Thừa


GAMPOPA

OSHO

Trungpa

NAROPA

Mahamudra

Kalachakra

Kalachakra II

GiáoLư DaKini

Giáo Lư Bardo

Bồ Tát Hạnh

Tâm Ánh Sáng

TánhGiácLộToànThân

Trí Huệ ThẩmThấu

Con Mắt Băo

Sùng Kính Thầy

Các Vị Chân Sư 

Phô Diễn Tự Tánh

Nh́n Bạn Như Là

Bài Học Yêu Thương

ChuKỳ Ngày-Đêm

Mỗi Ngày

Nói Về Tỉnh Thức

Nỗi Sợ Hăi Căn Để

Những Chữ Vàng

Thực Hành Thế Nào

Tâm Vượt Khỏi
Tử Thần

Thượng Đế
Tại Đây

Giải Thoát
Tự
Nhiên

PHẬT TÂM

Hoang Sơ
Bừng Tỉnh

Dhammapada

Trung Đạo

Nhẹ Nhàng Hướng Về Sự Tỉnh Thức

Những PhụNữ
Trí Huệ

Một Phút Hài Hước

Một Phút Minh Triết

Tử Thư Tây Tạng

Đại Tâm Thức Nghĩ Ngơi

Lối vào Thực Tại

Con Đường TỉnhThức

Chod Mahamudra

Kho Tàng Tâm

Như Một Chúc Thư

Viên Ngọc Như Ư

Luyện Tâm 7 Điểm

Đại Toàn Thiện

Những lời Khai Thị

Lời chân Lư

m Trượng Phu

Sự Tỉnh Thức

Như Một Giấc Mộng

Như Trời - Như Biển

Con Đường Tỉnh Lặng

 Góp Nhặt

Ḷng Bi Bao La

Nghi thức

MOTHER THÉRÉSA

HERUKA VAJRASATTVA

Kim Cang Giới

KỳNguyệnHươngLinh

Cây Giác Ngộ *

Thực Hành
PHẬT PHÁP

 Thơ Văn Mây Trắng

PHẬT GIÁO *

Truyện Ngắn Trên Mạng *

Mục Tham Khảo


Mục Tản Mạn *


Link Liên kết
Thai Cực Quyền


Ḥm Thư Lưu Trữ


Dấu * chỉ đề tài mới & đang

 

 
  Padmasham  
 


NHẬP BỒ TÁT HẠNH
Nguyên tác Phạn ngữ
Bodhisattvacharyavatara
Tịch Thiên
( Shantideva )
Hoa dịch:
Trần Ngọc Giao
Việt dịch:
Thích Nữ Trí Hải
Thành kính dâng lên Giác linh
Ni Trưởng ( thượng ) DIỆU ( hạ ) KHÔNG,
người trọn đời thể hiện tâm BỒ ĐỀ tôn quư.

 
 
 

 
 

 
 
 

MỤC LỤC

Tiểu Sử  Tôn Giả Tịch Thiên ( SHÀNTIDEVA )

Dẫn Nhập

Chương thứ nhất : Những lợi lạc của tâm Bồ Đề
,

Chương thứ hai : Sám hối tội nghiệp ,

Chương thứ ba : Ǵn giữ tâm Bồ Đề ,

Chương thứ tư : Không buông lung ,

Chương thứ năm : Giữ ǵn chánh trí ,

Chương thứ sáu : Nhẫn nhục ,

Chương thứ bảy : Tinh tấn ,

Chương thứ tám : Thiền định ,

Chương thứ chín : Trí Huệ ,

Chương thứ mười : Hồi hướng ,


   

Tiểu Sử
Tôn Giả Tịch Thiên

( SHÀNTIDEVA )

- Thích Trí Siêu -

Theo truyền thuyết tôn giả Sàntideva sinh ở miền Nam Ấn , vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7 . Ngài là thái tử con vua Surastra . Từ những kiếp quá khứ , ngài đă cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đă tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải thoát .

Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ , ngài đă nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát . Lớn lên , đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi , một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ tát : Văn thù và Tara .

Bồ tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng bảo ngài rằng : “ Ở đây không có chỗ cho hai người ” . Bồ tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài và nói : “ Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục . Ta đang tấn phong cho ngươi với nước này đây ” .

Tỉnh dậy , ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ tát . Nên đêm hôm trước ngày lên ngôi , ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu . Sau 21 ngày lang thang trong rừng vừa khát vừa đói . Ngài gặp được một con suối định uống th́ có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống v́ đó là nước độc . Sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm ngọt như cam lồ .

Giải khát xong , ngài hỏi thiếu nữ: “ Cô ở đâu đến ? ” . Thiếu nữ trả lời: “ Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở . Ngài rất đạo đức, từ bi và đă thành tựu phép tam muội của Văn Thù Kim Cang Sư Lợi ( Sri Manjuvajra  ). Tôi từ đó đến ” . Vừa nghe như thế, tôn giả Sàntideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng , yêu cầu thiếu nữ dẫn Ngài đến gặp vị thầy . Đến nơi ngài thấy đó là một hành giả ( Yogi ) sống trong một cḥi lá , ngài liền đảnh lễ , xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn thù Bồ tát .

Sau 12 năm tu tập , ngài chứng được phép tam muội trên . Thấy được vị thầy chính là Văn Thù và thiếu nữ chính là Tara . Kể từ đó ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ tát .

Sau đó ngài đi về phương đông , xin làm việc trong triều của vua Pancamasimha . Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm Thừa tướng . Để tỏ ḷng thành kính nhớ ơn vị thần linh chủ hộ của ḿnh - tức Văn Thù Bồ tát, ngài luôn đeo trên ḿnh một thanh kiếm gỗ .

Ngài giúp vua trị v́ đúng theo Phật pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ . Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức , t́m cách dèm pha và hăm hại . Họ bảo vua rằng : “ Thừa tướng là một người gian xảo , luôn đeo trên ḿnh một thanh kiếm mà không bao giờ rút ra cho ai xem cả . Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ . Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được ? . Xin Bệ hạ hăy khám nghiệm ” .

Vua tin lời, cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói : “ Kiếm của tôi , bệ hạ không thể nh́n được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận ” . Nghe vậy , vua càng nghi ngờ nhất quyết đ̣i xem . Cuối cùng, Thừa tướng nói : “ Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem th́ hăy theo tôi đến chỗ vắng , lấy tay che mắt phải lại , chỉ nh́n bằng mắt trái thôi ” .

Vua chấp thuận và thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của vua rơi xuống đất . Vua liền ăn năn hối hận , biết ngài là một người đắc đạo , một Đại thành tựu giả nên cầu xin sám hối .

Biết vua đă ăn năn . Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tṛng lại khiến vua khỏi mù . Sau đó tôn giả từ bỏ chức Thừa tướng , t́m đến Tu viện Nalanda xuất gia thọ giới được đặt tên là Sàntideva .

Sau khi nghe hết 3 tạng kinh điển , tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận :

Siksàsamuccaya , Sùtrasamuccaya và Bodhi-caryàvatàra . Ngài tu mật hạnh , học trực tiếp với Văn Thù Bồ tát trong thiền định . Tất cả thời ăn , ngủ , đi , đứng , ngài đều thiền quán về Thanh Quang .

Tuy vậy chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ không chịu văn , tư , tu ǵ . Thấy thế một số Thượng tọa , học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi tu viện . Có người cho ư kiến: “ Nếu chúng ta họp lại , bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận . Chắc chắn y phải tự động rút lui rời bỏ tu viện . V́ y chỉ ăn và ngủ đâu có bao giờ tu học ǵ ” .

Thế rồi đến phiên tôn giả Sàntideva phải trùng tuyên lại Kinh Luận . Ban đầu ngài từ chối nói không biết ǵ . Chúng tăng muốn làm nhục nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói : “ Nếu vậy, phải làm cho tôi một ṭa sư tử tôi mới trùng tuyên ” .

Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ , nhưng đa số chấp thuận v́ tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận được . Sau khi lên ngồi ṭa sư tử , ngài hỏi: “ Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đă có từ trước hay những sáng tác mới sau này ? ” . V́ muốn chế giễu nên đại chúng nói : “ Những sáng tác mới sau này ” .

Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh ( Bodhisattava-caryavatara ) . Khi tụng đến câu : Khi Có và Không không c̣n khởi lên trong tâm . . . , th́ ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất , nhưng tiếng của ngài c̣n vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh . Không thấy ngài nữa , tăng chúng hối hận trở về pḥng ngài t́m kiếm . Thấy trên bàn để lại 3 quyển: Sùtrasamuccaya , Siksacamuccaya và Bodhi-caryàvatàra .

Trở về đầu trang


Dẫn Nhập
Thích Như Thạch
( Trần Ngọc Giao )

Nhập Bồ Tát Hạnh
Đạo Luận

Nói một cách tổng quát , nội dung bộ Nhập Bồ Tát Hạnh muốn chỉ rơ thứ lớp tu tập pháp môn Đại thừa : Thế nào phát khởi Bồ Đề tâm và tu tập Bồ Tát hạnh . Toàn bộ luận phân làm mười chương .  

Chương thứ nhất :

Những lợi lạc của tâm Bồ Đề ,

Khuyến khích chúng sinh phát tâm Bồ Đề chân thực .

Chương thứ hai :

Sám hối tội nghiệp ,

Kế đó tu tùy hỉ ,

Khuyến thỉnh và hồi hướng phúc đức rộng lớn .

Chương thứ ba :

Ǵn giữ tâm Bồ Đề ,

Phát khởi tâm Bồ Đề nguyện ;

Cùng thọ giới Bồ Tát .

Chương thứ tư :

Không buông lung ,

Tu tập hạnh không buông lung ;

Hầu tránh vi phạm Bồ Tát học xứ .

Chương thứ năm :

Giữ ǵn chánh tri ,

Cho biết làm thế nào để giữ ǵn Bồ Tát học xứ .

Chương thứ sáu :

Nhẫn nhục ,

Dạy tu nhẫn nhục trừ khử tâm chướng ngại

trong sự tu tập Bồ Tát hạnh .

Chương thứ bảy :

Tinh tấn ,

V́ muốn được tăng trưởng Bồ Tát hạnh ,

Phải tinh cần tu tập .

Chương thứ tám :

Thiền định ,

Trước tiên tu tĩnh lự để đối trị hôn trầm , tán loạn

( Đặc biệt quở trách sự tham dục ) .

Sau đó tiến thêm một bước tu tập pháp môn tự tha hoán

(  Trao đổi ḿnh và người ) ,

Để tăng trưởng tâm Bồ Đề thế tục .

Chương thứ chín :

Trí Huệ ,

V́ muốn thông đạt thực tướng của chư pháp ,

Dẫn đến tâm Bồ Đề thắng nghĩa .

Hầu có thể đoạn trừ phiền năo ,

Nên phải có trí huệ .

Chương thứ mười :

Hồi hướng ,

Đem tất cả công đức của nghiệp lành ;
Hồi hướng đến tất cả chúng sinh .
Phần trên là đại ư nội dung của bộ luận này .
Nếu qui nạp lại , có thể chia làm bốn phần :

Phần 1 :

Ba chương đầu là tông chỉ chủ yếu , đối với chúng sinh chưa phát tâm . Dẫn phát thế tục tâm nguyện Bồ Đề và tâm hạnh Bồ Đề .

Phần 2 :

Ba chương Không buông lung , Giữ ǵn chánh tri , Nhẫn nhục . Chỉ dẫn , khuyến khích thế nào giữ ǵn tâm Bồ Đề . cùng nghiêm tŕ giới luật Bồ Tát . Không để ngoại duyên làm ô nhiễm , thoái thất .

Phần 3 :

Ba chương Tinh tiến , Thiền định , Trí tuệ . Một mặt giúp hành giả tăng tiến tâm Bồ Đề thế tục , một mặt đem hành giả đến sự phát sinh tâm Bồ Đề thắng nghĩa , thuần tịnh không nhiễm . Cùng y vào đây thực hành xuất thế gian Ba la mật , tăng trưởng phúc tuệ tư lương , tăng tiến cho đến lúc thành Phật .

Phần 4 :

Cuối cùng là chương Hồi hướng . Hồi hướng phát nguyện , đây cũng là một phương cách tăng trưởng vô tận phúc đức .

Nếu từ khía cạnh khác , theo quan điểm chính ngài Tịch Thiên trong quyển Học Xứ Tập Yếu, có thể giải thích như sau :

1

Tông chỉ chủ yếu ba chương đầu : Muốn dẫn phát một loại ư nguyện tối thù thắng . Nguyện đem thân thể , tài sản , thiện căn của ḿnh . Hoàn toàn bố thí cho tất cả chúng sinh . Hơn nữa , bắt đầu chân thành tu tập hạnh Bồ Tát .

2

Ba chương Không buông lung , v . v . . . Chủ yếu muốn nói đến quá tŕnh tu học . Làm thế nào để giữ ǵn thân thể , tài sản , thiện căn để thuận tiện cho việc lợi ích chúng sinh .

3

Bốn chương cuối : Muốn chỉ đạo hành giả , sau khi giữ ǵn thân thể, tài sản v . v . . . Làm thế nào tiến thêm một bước trong công việc tịnh hóa cùng tăng trưởng .

Nói một cách tổng quát , nội dung chủ yếu của bộ Nhập Bồ Tát Hạnh dùng để chỉ dẫn hành giả trong quá tŕnh tu học hạnh Bồ Tát . Làm sao tu tập lục độ vạn hạn h, để thuận tiện dùng những phương thức bố thí , giữ ǵn , tịnh hóa cùng tăng trưởng thân thể , tài sản , thiện căn v . V . . . Trong việc lợi tế quần sinh .

Tịch Thiên trong quyển Học Xứ Tập Yếu . Chương Học tập bố thí nói : “ Đem thân thể , tài vật cùng thiện căn hoàn toàn bố thí cho tất cả hữu t́nh . Hơn nữa , phải giữ ǵn , tịnh hoá cùng tăng trưởng chúng . Đây là yếu lĩnh của Bồ Tát học xứ ” .

Tại cuối chương , Tịch Thiên dẫn kinh Bảo Vân để kết luận như sau : “ Thí xả là Bồ Đề của Bồ Tát ” . Nhập Bồ Tát Hạnh , chương thứ ba,  bài kệ 10 - 11 cũng nói :

“ V́ muốn thành tựu sự lợi ích của tất cả hữu t́nh .
Con bố thí thân mệnh ḿnh không chút luyến tiếc .
Bố thí tất cả tài sản cùng thiện căn phúc đức .
Nếu có thể từ đáy ḷng thí xả tất cả thân thể , tài sản , thiện căn .
Con sẽ vượt qua tất cả khổ, thành tựu Niết Bàn ” .

Do đây , có thể thấy được Tịch Thiên rất chú trọng đến sự tu tập bố thí . Từ cái nh́n của ngài , chữ Xả là tổng tŕ trong sự hành tŕ của cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa . Hành giả Tiểu thừa , do v́ xả ly tất cả sự tham luyến đối với tam giới mà chứng được sự diệu lạc của Niết Bàn .

Hành giả Đại thừa , tiến thêm một bước. Xả bỏ luôn sự diệu lạc của Niết Bàn , đạt tới cái gọi là : “ Trí không trụ ba cơi . Bi không trụ Niết Bàn ” . Chính là cảnh giới vô trụ của vô thượng Bồ Đề .

Chính Tịch Thiên nghĩ rằng :

Tu tập bố thí là trọng yếu nhất trong quá tŕnh tu học Bồ Tát hạnh . V́ thế ngài không lập riêng chương Bố thí , mà đem quan niệm “ Thí xả tất cả ” vào trong tất cả các chương . Nhân đây , trong mỗi chương của quyển Nhập Bồ Tát Hạnh . Chúng ta có thể thấy rơ ư nghĩa của sự “ Thí xả tất cả ” này .

Thuật Ngữ

Tara :

Là một hóa thân nữ của Quán Thế Âm . Trong Phật giáo Ấn độvà Tây tạng nói đến rất nhiều . Quán Thế Âm, khi nh́n thấy chúng sinh đau khổ , ngài nhỏ lệ từ bi và giọt lệ này rơi xuống hóa thành Tara .

Văn Thù Bồ tát :
Thường hiện thân , tay phải cầm kiềm trí huệ , tay trái cầm kinh Bát Nhă .


Mahasiddha :

Người tu hành đắc đạo có thần thông.

Simhasana :

Ṭa ngồi chỉ dành cho những hàng Tỳ kheo Trưởng lăo Pháp sư.

Hai tập Siksàsamuccaya ( Giáo Tập Yếu ) ;
Và Bodhicaryàvatàra (
Bồ TátHạnh )  :

Chắc chắn tác giả là ngài Sàntideva , riêng tập Sùtrasamuccaya đa số các học giả đều công nhận tác giả là ngài Long Thọ ( Nàgàrjuna ) .

Tiểu sử này tôi rút từ 2 tài liệu History of Buddhism in India của Taranatha La Légende de Sàntideva trong Indo-Iranian Journal Volume XVI . Trong tạng Luận của Tây tạng có nói đến bộ Mdo.sde.sna.tshogs.kyi.mdo.btus.pa ; được học giả Marcelle Lalou chuyển sang lại Sanskrit Visvasùtrasamuccaya . Tập này ngày nay đă bị mất tích .

Theo học giả J.W.De Jong có lẽ 2 tập này tương tự nhau nên các sử gia Tây tạng và luận gia Ấn độ cùng cho tác giả của Kinh Tập Yếu ( Sùtrasamuccaya)  là ngài Sàntideva . Kinh Tập Yếu đă được Ḥa thượng Linh Sơn thượng Huyền hạ Vi dịch từ Hán văn ra Việt văn năm 1985 với tựa đề là Yếu Nghĩa Phật Pháp .

Lời Giới Thiệu

Bộ luận Nhập Bồ Tát Hạnh là một kiệt tác của Phật giáo Ấn Độ . Không những trên phương diện tư tưởng , tu chứng mà c̣n cả trên phương diện văn học . Nó đă đem lại niềm vui cho biết bao nhiêu thế hệ .

Tương truyền ở Ấn Độ đă có hơn một trăm bộ chú thích cho bộ luận này và ở Tây Tạng nó đă trở thành một trong sáu bộ luận “ gối đầu ” cho những kẻ học Phật . Bộ luận này được truyền đến Trung Hoa vào đời Triệu Tống .

Lúc ấy Phật giáo vừa trải qua cơn pháp nạn khốc liệt thời Đường Vũ Tông . Kế tiếp lại bị nhiều nạn đao binh phá hoại trong thời Ngũ đại . Cho nên sinh khí của Phật giáo lúc bấy giờ gần như bị kiệt quệ , ngoài Thiền Tông và Tịnh Độ Tông , các tông phái khác gần như tuyệt tích .

Hơn nữa , vào thời đó . Các vị tăng sĩ ít “ hứng thú ” trong việc khảo cứu các tác phẩm mới được phiên dịch từ Ấn Độ . V́ lư do này , hầu hết các dịch phẩm mới dưới thời Triệu Tống ít được các nhà học Phật để ư đến  và “ Nạn nhân chính ” trong đó là bộ Nhập Bồ Tát Hạnh .

Điều tệ hại nữa là bản dịch của ngài Thiên Tức Tai , một cao tăng Ấn Độ . Không những thiếu sót nhiều chỗ , văn chương lại tối tăm khó hiểu . Thành thử số phận nó lại càng hẩm hiu . Kết quả là bộ luận này đă bị bỏ quên trong bộ Đại Tạng Kinh của Trung Hoa hơn một ngàn năm mà không ai biết đến .

Trái lại , ở Tây Tạng lưu truyền rất thịnh hành và gần đây Âu Tây phong trào nghiên cứu bộ luận này càng lúc càng trở nên rầm rộ . Theo như sự hiểu biết của tôi , đă có hơn mười bộ : phiên dịch , chú giải , luận án nghiên cứu bằng tiếng Anh đă được xuất bản . Chưa kể đến các ngôn ngữ khác như Nhật, Đức , Pháp , Ư . . .

Điều này chứng tỏ nó phải có một giá trị nào đó mới có thể thu hút được sự chú ư của nhiều người như thế . Sự đặc sắc của bộ luận này có thể được nh́n từ hai phương diện :

1- Phương diện tư tưởng :

Ngài Tịch Thiên trên phương diện trước tác để lại vỏn vẹn hai ( có chỗ nói ba ) . Tác phẩm chính tức bộ luận này cùng bộ Học Xứ Tập Yếu . Tuy số lượng ít oi như thế . Nhưng chỉ cần nh́n vào , chúng ta có thể quả quyết rằng không những ngài là một học giả uyên bác mà c̣n là một nhà tư tưởng cao siêu .

Trong chiếc áo nhà tu , Tịch Thiên biểu hiện cho chúng ta biết ; ngài không những là bậc trí tuệ siêu phàm mà c̣n là một kẻ rạt rào t́nh cảm . Lư trí và t́nh cảm không bắt buộc phải bị tách đôi như các nhà triết học Tây phương quan niệm mà lư có thể hợp nhất với t́nh .

V́ lư do này , Phật giáo Đại thừa chú trọng nhiều đến phương diện t́nh cảm , V́ nếu t́nh cảm được đặt đúng vị trí , sẽ trở thành một động lực căn nguyên của tâm Đại Từ Bi . Muốn thành Phật , tất nhiên phải có đủ cả hai đức tính từ bi và trí tuệ . Thiếu một không thể được !  .

Phát Bồ Đề Tâm ! . Tu Bồ Tát Hạnh ! . Nghe qua có vẻ đơn giản . Nhưng chắc chắn không phải là công việc của một kẻ tầm thường . Đây là khung trời của những kẻ mà ư chí cao vượt đến những dăy ngân hà xa tít .

Phương tiện của những kẻ mà tâm nguyện kiên cường vững chăi hơn trăm ngàn thành lũy . Của những kẻ mà trăm ngàn lưỡi đao bén nhọn không làm nao núng và trăm ngàn sự vui cơi trời không làm họ xao động ! .

Ai là kẻ có thể nắm giữ được gia nghiệp của Đức Như Lai ? . Ai là kẻ có thể làm xán lạn cho gia tộc Phật ? . Những kẻ chí nguyện vững chắc hơn trăm ngàn kim cương . Chỉ có thể là những kẻ v́ chúng sinh chảy ḍng lệ nhạt nḥa như người mẹ hiền nức nỡ trước nỗi khổ của đứa con ḿnh . Từ những ḍng tư tưởng trong bộ luận này chúng ta có thể thấy một cách mông lung tầm kích vĩ đại của ngài Tịch Thiên ! .

2- Phương diện thực tiễn tu hành :

Điều trọng đại nhất cho hành giả bắt đầu dấn bước trên con đường Bồ Tát là phát tâm Bồ Đề . Phát tâm Bồ Đề là sự chuyển ḿnh của hành giả từ thân phận tầm thường của một phàm phu vào đến tầm kích của vũ trụ .

Đây là sự biểu hiện của một nhân cách vĩ đại không có một hệ thống triết học hay tôn giáo nào có thể tự hào . Khi hành giả lột bỏ được bộ quần áo tâm linh cũ nát để thay vào đó bằng bộ quần áo lộng lẫy - Bồ Đề Tâm . Trên phương diện “ người ” , hành giả trở nên cao quí hơn tất cả muôn loài trong thế giới :

Kẻ tù ngục sinh tử ,
Nếu phát Bồ Đề tâm .
Tức khắc tên Phật tử ,
Trời người nên cung kính ! .

Trong kinh Hoa Nghiêm , Bồ tát Di Lặc đă mô tả cho Thiện Tài một cách tỉ mỉ về hành trạng của tâm Bồ Đề như sau :

Bồ đề tâm như hạt giống ,
V́ từ đó sinh ra tất cả Phật pháp .
Bồ đề tâm như ruộng tốt ,
V́ nơi đây sản xuất ;
Các thứ thuần tịnh cho thế gian .

Bồ đề tâm như cơi đất ,
V́ ǵn giữ tất cả thế gian .
Bồ đề tâm như ḍng nước ,
V́ rửa sạch tất cả cáu bẩn của tham dục .

Bồ đề tâm như ngọn gió ,
V́ thổi khắp thế gian
;
K
hông ǵ làm ngăn ngại .
Bồ đề tâm như ngọn lửa ,
V́ đốt cháy tất cả củi hư luận . . .

Bồ đề tâm như cha lành ,
V́ bảo hộ hết thảy các Bồ tát .
Bồ đề tâm như mẹ hiền ,
V́ dưỡng dục hết thảy Bồ tát .

Bồ đề tâm như nhũ mẫu ,
V́ chăm sóc hết thảy Bồ tát . . .
Bồ đề tâm như người tỉnh thức ,
V́ đẩy lui tất cả các xấu xa .

Bồ đề tâm như lưới trời Đế thích ,
V́ khuất phục những quỷ phiền năo A tu la .
Bồ đề tâm như lửa trời Đế thích ,
V́ đốt cháy tất cả tập quán ;
Tham dục và phiền năo bất tịnh .
Bồ đề tâm như tháp thờ xá lợi ,
V́ hết thảy thế gian
;
L
oài người và A tu la đồng kính ngưỡng .

Rồi Bồ tát Di Lặc kết luận :

“ Này thiện nam tử , Bồ đề tâm thành tựu vô lượng công đức tuyệt diệu như vậy . Tóm lại Bồ đề tâm cũng đồng như Phật pháp và các công đức của quả Phật . Tại sao thế ? . Bởi v́ , chính từ Bồ đề tâm mà hạnh Bồ tát bắt đầu khởi hành và cũng chính từ đó hết thảy Như Lai trong quá khứ , hiện tại và vị lai xuất hiện ở thế gian .

V́ vậy , này thiện nam tử . Một khi ước vọng giác ngộ tối thượng được phát khởi , vô số công đức cũng được phát sinh và cả đến ư thức ẩn áo nhất của Nhất thiết trí cũng phát sinh từ đó ” . 

( Trích từ Thiền Luận của Suzuki , bản dịch Tuệ Sỹ ) .

Thế nhưng , trong quá tŕnh trui luyện chí nguyện Bồ tát , các công hạnh tuy đa dạng và nhiều đến vô lượng . Song mục đích không ngoài cốt yếu là buông bỏ “ tự ngă ” . Suzuki trong quyển “ Khai Ngộ Đệ Nhất ” có nói : “ Lúc buông bỏ tự ngă cũng chính là lúc tha lực hiển hiện ” .

Khi hành giả t́m đến bờ vực của tâm linh trong sự thành khẩn tha thiết đến cực độ , ngay phút giây bàng hoàng đó , hành giả có thể tạm thời quên mất tự ngă . Và chính trong giây phút huyền diệu này . Lạ lùng thay , tha lực hiển hiện như một luồng ánh sáng chan ḥa ! .

Trong giây phút tuyệt vời này không c̣n sự phân biệt tự và tha . Ḿnh và đối tượng đă trở thành một ! . Và ngay chính trong sự tha thiết cùng độ đó ; lại chính là giây phút hành giả thể nghiệm được chân lư , và đây chính là thể ngộ về Tính Không !  .

Dịch bản tiếng Việt bộ Nhập Bồ Tát Hạnh là một công tŕnh kiệt xuất của Ni sư Trí Hải . Ni sư không những dịch thành văn xuôi mà lại c̣n dịch thành văn vần . Cả hai đều có thể gọi là những dịch phẩm quan yếu cho Phật giáo Việt Nam . Đây là một sự đóng góp lớn lao , không những cho nền văn hóa Phật giáo Việt Nam nói riêng mà c̣n cho cả nền văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung .

Tôi may mắn được nghiên cứu qua tác phẩm vĩ đại của ngài Tịch Thiên và đă phiên dịch bộ luận này theo thể tài kệ tụng bốn câu năm chữ . Đồng thời cũng viết xong một quyển chú giải . Song nhận thấy chúng chỉ là những viên sỏi vụn không có chút giá trị nào . Nay có nhân duyên gặp được “ trân châu bảo ngọc ” nên không ngần ngại , vội vàng vứt đi những viên sỏi vụn “ sần sùi ”  .

Chắp tay kính cẩn dâng hai dịch phẩm quư giá đến quư vị độc giả . Đồng thời phát tâm “ hợp đính ” để tiện cho người đọc . Nếu không thể lănh hội phần văn vần , có thể tham khảo thêm phần văn xuôi để lănh hội thêm ư chỉ uyên thâm của bộ luận .

Hai phần văn xuôi và văn vần có được là nhờ sư huynh tôi , thầy Thích Pháp Quang trụ tŕ chùa Tịnh Luật ở Texas , liên lạc với Ni sư Trí Hải ở Việt Nam gửi qua cho thầy bằng “ email ” .

Khi nhận được hai phần từ thầy Pháp Quang , tôi cảm thấy vui mừng như “ kẻ khát được cam lộ , kẻ nghèo gặp ngọc quư ” . Bèn không quản tài học thô thiển viết lên vài hàng giới thiệu hầu kết duyên với tất cả những hành giả “ Đă , đang , hoặc sẽ phát tâm học tập Bồ tát hạnh ” .

Cũng nhân đây “ phát lộ ” với tất cả đại chúng rằng ḿnh được “ diễm phúc ” tắm gội trong hào quang của Tam Bảo cùng ánh sáng chói ngời của con người vĩ đại Tịch Thiên ! .

Nguyện đem công đức truyền bá “ áo nghĩa ” Đại thừa hồi hướng đến thân mẫu , Sư cô Thích Nữ Chúc Phước , đàn na tín chủ . Cùng tất cả chúng sinh .

Nguyện tất cả những ai thấy nghe tin hoặc không tin , hiểu hay không hiểu , khen ,  chê , kính hoặc hủy . Đời đời đều trở thành Pháp quyến của nhau , d́u dắt nâng đở cho đến ngày tất cả đều thành Chánh Giác .

Xin tất cả hăy cùng nhau phát lên lời thệ nguyện vĩ đại của Tịch Thiên :

Cho đến tận hư không ,
Nơi nào có chúng sinh .
Nguyện sẽ đến nơi đó ,
Diệt khổ đau cho họ ! .

Mùa Phật Đản 2547, tháng 5-2003
Tường Quang Tự,
Tỳ kheo Thích Pháp Chánh cẩn thức

Lời
Người Dịch Việt Ngữ

Cách đây vài năm , tôi đă được đọc dịch phẩm Bồ tát hạnh của thầy Trí Siêu và bản dịch tiếng Pháp Vivre en héros pour l'éveil sau đó . Sách này đă gây cho tôi một chấn động sâu xa , nhất là thấy đa số các học giả và hành giả Phật giáo hiện nay trên thế giới đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của nó trong hầu hết các bài giảng , tác phẩm , dịch phẩm của họ ; đủ biết ảnh hưởng sâu rộng chừng nào .

Được biết luận này mang tên Nhập bồ tát hạnh của bồ tát Tịch thiên sống tại miền Nam Ấn vào thế kỷ thứ bảy ( xem tiểu sử do thầy Trí Siêu biên soạn ) . Đây là một trong ba tác phẩm của ngài để lại , nguyên văn Phạn ngữ theo thể kệ tụng . Là sách gối đầu giường của tăng ni Phật tử tại các nước theo đại thừa ở Ấn độ vào thế kỷ thứ tám , thời gian đại thừa cực thịnh và sau đó tại các nước tây vức như Mông cổ , Tây tạng suốt ngàn năm rất thịnh hành ở các nước Tây phương và đă có nhiều bản dịch đủ các thứ tiếng .

Riêng Pháp ngữ đă có hai ba bản dịch , Anh ngữ cũng vậy , so ra không sai biệt bao nhiêu , đủ biết các dịch giả Tây phương làm việc rất nghiêm túc , nhờ sự hướng dẫn của chính các vị thượng sư đang thực hành các pháp đề cập trong sách này .

Các ngài là những bài Pháp sống động đă vừa hướng dẫn , vừa đem lại nguồn hứng khởi cho những dịch giả . Các pháp được đề cập không ngoài mười hạnh Phổ hiền , sáu ba la mật , tịnh chỉ và tuệ quán , lư Tánh không theo lập trường Trung quán mà tác giả , bồ tát Tịch thiên là đại biểu . Có thể nói đây là một bổ túc và giải rộng giới bản Bồ tát đặc biệt dành cho giới xuất gia , nhưng cũng có thể phổ cập cho tất cả mọi người , nhất là tám chương đầu của sách đă được chuyển dịch thành thơ lục bát và song thất .

Sự g̣ bó của vần điệu, chắc chắn dịch thơ không thể nào lột hết thánh ư trong nguyên bản , nên song song với bản dịch thơ , c̣n có bản văn xuôi . Bởi vậy , gặp những chỗ khó hiểu trong bản dịch thơ , xin độc giả tham khảo câu , phần tương đương trong bản dịch văn xuôi ở một tập khác . Ngoài ra , trong khi dịch văn xuôi để giúp người chưa rành những từ ngữ Phật giáo và pháp số , tôi có chú thêm giải thích trong ngoặc đơn kèm theo ngay sau mỗi từ khó hiểu .

Bản dịch này căn cứ trên bản gốc bằng Hán ngữ của Trần Ngọc Giao dịch từ Tạng ngữ kèm chú giải bằng tiếng Phổ thông do Tạng hải xă Đài Bắc xuất bản ( Trung hoa dân quốc năm 81 ) . Đồng thời tham khảo bản tiếng Pháp của Georges Driessens , Editions du Seuil xuất bản 1993 và bản Anh dịch của Stephen Batchelor , A Guide to the Bodhisattva's Way of Life , Library of Tibetan Works and Archives xuất bản 1979 . Xin chư Bồ tát gia hộ cho bản dịch này không quá xa Thánh ư .

Bản dịch này có ra là nhờ thầy Pháp Quang ở Texas đă khuyến khích dịch văn vần , và gửi tài liệu để tham khảo . Xin nhân dịp này bày tỏ ḷng biết ơn đối với quư thầy Pháp Quang , Hạnh Nguyện cùng nhiều vị khác ở hải ngoại từ bao năm nay đă gửi cho rất nhiều tư liệu quư báu và cập nhật . Nguyện đời đời kiếp kiếp được gặp Bồ đề quyến thuộc , chỉ ra đời và sống v́ an lạc cho nhiều người , v́ hạnh phúc cho nhân loại và chư thiên .

Tháng 3, 1998
Tỳ kheo ni Trí hải .

Trở về đầu trang

Chương thứ nhất : Những lợi lạc của tâm Bồ Đề
 

 

Muc luc: Bồ Tát Hạnh

 
 

Webmaster@maytrang.org