Pháp Chân Thật - Kim Cang Thừa


GAMPOPA

OSHO

Trungpa

NAROPA

Mahamudra

Kalachakra

Kalachakra II

GiáoLư DaKini

Giáo Lư Bardo

Bồ Tát Hạnh

Tâm Ánh Sáng

TánhGiácLộToànThân

Trí Huệ ThẩmThấu

Con Mắt Băo

Sùng Kính Thầy

Các Vị Chân Sư 

Phô Diễn Tự Tánh

Nh́n Bạn Như Là

Bài Học Yêu Thương

ChuKỳ Ngày-Đêm

Mỗi Ngày

Nói Về Tỉnh Thức

Nỗi Sợ Hăi Căn Để

Những Chữ Vàng

Thực Hành Thế Nào

Tâm Vượt Khỏi
Tử Thần

Thượng Đế
Tại Đây

Giải Thoát
Tự
Nhiên

PHẬT TÂM

Hoang Sơ
Bừng Tỉnh

Dhammapada

Trung Đạo

Nhẹ Nhàng Hướng Về Sự Tỉnh Thức

Những PhụNữ
Trí Huệ

Một Phút Hài Hước

Một Phút Minh Triết

Tử Thư Tây Tạng

Đại Tâm Thức Nghĩ Ngơi

Lối vào Thực Tại

Con Đường TỉnhThức

Chod Mahamudra

Kho Tàng Tâm

Như Một Chúc Thư

Viên Ngọc Như Ư

Luyện Tâm 7 Điểm

Đại Toàn Thiện

Những lời Khai Thị

Lời chân Lư

m Trượng Phu

Sự Tỉnh Thức

Như Một Giấc Mộng

Như Trời - Như Biển

Con Đường Tỉnh Lặng

 Góp Nhặt

Ḷng Bi Bao La

Nghi thức

MOTHER THÉRÉSA

HERUKA VAJRASATTVA

Kim Cang Giới

KỳNguyệnHươngLinh

Cây Giác Ngộ *

Thực Hành
PHẬT PHÁP

 Thơ Văn Mây Trắng

PHẬT GIÁO *

Truyện Ngắn Trên Mạng *

Mục Tham Khảo


Mục Tản Mạn *


Link Liên kết
Thai Cực Quyền


Ḥm Thư Lưu Trữ


Dấu * chỉ đề tài mới & đang

 

 
  Padmasham  
 


Các Vị Chân Sư

 
 
 

 

Đại sư thứ 1

Luipa
Nhà Sư Du Già
Ăn Ḷng Cá Thối

Như chó dại dính mật ong nơi mũi ,
Cuồng điên t́m vị ngọt khắp nơi nơi .
Hăy tiết lộ bí mật của một Lạt-ma ,
Cho kẻ dại khờ kia hiểu rơ .
Với một con người nhạy cảm ,
Ngộ được chân lư vô sinh .
Tia nh́n thoáng qua của một Lạt-ma ,
Là tia chớp thanh tịnh soi sáng và hủy diệt ảo ảnh .
Như con voi đốn ngă quân thù ;
Bằng chiếc ṿi tựa gươm đao .

Truyền thuyết

Thuở nọ , tại đảo quốc Tích Lan ( Sri Lanka ) . Sau khi quốc vương băng hà , theo truyền thống . Thái tử thứ nhất sẽ kế vị vua cha . Nhưng các quan thiên văn xét thấy muốn đất nước được an b́nh cần phải trao ngôi báu cho người con thứ . V́ vậy , vị hoàng tử trẻ tuổi nghiễm nhiên thành người trị v́ cả vương quốc Tích Lan .

Mặc dù sống trong cảnh lộng lẫy xa hoa , được cung phụng đầy đủ các món ngon vật lạ . Nhưng vị vua trẻ vẫn cảm thấy chán chường quyền lực và sự giàu sang . Xét cho cùng nhà vua chẳng được ǵ thêm ngoài hai thứ ấy . Thế là niềm khao khát duy nhất của ngài là thoát khỏi cảnh ràng buộc này .

Rủi thay , trong lần đầu bỏ trốn . Nhà vua trẻ bị bắt lại và bị xiềng chặt vào chiếc ngai bằng sợi xích vàng . Sau nhờ đút lót cho lính canh . Nhà vua lại thoát ra khỏi hoàng cung cùng một người hầu . Ngài đă tưởng thưởng một cách hào phóng cho người hầu cận trung thành trước khi rời bỏ Tích Lan ; để t́m đến Ramesvaram, nơi đức vua Rama đang trị v́ . Tại đây , ngài đổi chiếc vương miện bằng vàng để lấy một bộ da dê và đổi bộ vương phục quí giá để lấy một bộ quần áo rách nát . Kể từ đó , ngài trở thành một đạo sĩ du phương .

Vị đạo sĩ vốn là cựu vương . Thân tướng oai nghiêm đẹp đẽ nên không mấy khó khăn trong việc khất thực độ thân . Du hành khắp xứ Ấn độ , đến một hôm t́nh cờ ngài đặt chân đến vùng Phật tích Vajrasana . Nơi xưa kia thái tử Tất-đạt-đa tu thành chánh quản . Tại đây , ngài được gặp các nữ Du-già hành giả ( Dakini ) truyền cho tâm pháp . Rời Vajrasana , ngài đến Pataliputra ( thành Hoa thị ) . Kinh đô của vua nằm ven bờ song Hằng . Ban ngày ngài đi khất thực , đêm về nghỉ ngơi nơi mộ địa .

Bữa nọ , khi đi khất thực ngài t́nh cờ dừng chân trước ngưỡng cửa của một thanh lâu . Chính nghiệp lực của ngài đă dun rủi đưa đến sự kỳ ngộ này . Một cô kỹ nữ lầu xanh trong tiền kiếp từng là một Dakini . Chăm chú nh́n vị đạo sĩ một hồi lâu rồi thốt lên rằng : “ Các căn của ông quả khá thanh tịnh . Chỉ hiềm nỗi tính kiêu mạn vi tế về ḍng dơi hoàng tộc vẫn c̣n phảng phất trong ông ” . Nói xong , cô đổ một ít cháo ôi thiu vào b́nh bát của ngài .

Đi được một quăng , vị đạo sĩ trút thứ cháo lỏng bỏng đă hôi thối không c̣n ăn được xuống rănh nước ở ven đường . Cô gái nh́n thấy vậy bèn quát lên một cách giận dữ  : “ Làm thế nào ông có thể đạt đến Niết-bàn . Khi tâm c̣n phân biệt sự dơ sạch của thức ăn ? ” . Nghe lời trách mắng như thế , vị đạo sĩ cảm thấy xấu hổ . Chợt nhận ra rằng ngài chưa hoàn toàn dứt trừ hết các phiền năo trong tâm . Thế là , ngài nhận thức được : Tâm suy lường phân biệt làm trở ngại chính khiến ngài khó đạt tới Phật tính .

Ngài liền đi về phía sông Hằng , liên tục thiền quán ṛng ră suốt 12 năm để diệt vọng niệm phân biệt và các kiến chấp . Hằng ngày , ngài đi quanh bờ biển lượm các ruột cá ngư dân vứt bỏ rải rác . Pháp tu của ngài là : “ Vận tâm quán tưởng thứ ruột cá  tanh hôi tởm lợm trở thành một tiên dược thanh khiết ” .  Ngài quán chiếu các pháp thế gian chỉ do duyên hợp và bản chất của chúng chỉ là sự rỗng không .

Bởi hạnh tu ấy , nhân dân quanh vùng gọi ngài là Luipa nghĩa là : “ Người ăn ruột cá ” . Sau 12 năm tinh cần tu luyện , ngài Luipa đă chứng đắc thần thông và giác ngộ . Ngài trở thành một vị Guru nổi tiếng và trong các truyền thuyết về Darikapa và Dengipa cũng có nhắc đến ngài .

Hành tŕ

Truyền thuyết về ngài Luipa đă khôi phục lại ; một số sự kiện trùng lấp gần giống như trường hợp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni . Luipa là một vị vua từ bỏ ngai vàng và các thú vui ngũ dục để đi t́m sự giác ngộ . Và ngài cũng ra đi trong đêm tối cùng với một người hầu . Và rồi sau đó trở thành một tu sĩ . Cả  hai đều đánh đổi vương miện và hoàng bào để lấy một bộ y phục tồi tàn của dân nghèo . Điều ấy nói lên quyết tâm từ bỏ địa vị cao sang để đi t́m chân lư giải thoát . Có điều là Luipa sinh ra vào thời kỳ Phật không c̣n tại thế . Do đó , ngài không gặp Phật để được người trực tiếp trao truyền giới luật ; và được hướng dẫn các pháp tu đơn giản nhưng có  hiệu quả lớn .

Để có thể đoạn trừ  tạp nhiễm vi tế . Vị Kim Cương Thánh Nữ đă đưa ra phương pháp giải trừ các kiến chấp phân biệt trong tâm của Luipa . V́ đó chính là nguyên nhân đưa hành giả trở lại sáu nẻo luân hồi . Tuy nhiên , muốn thoát khỏi sinh tử luân hồi trong hiện kiếp . Cần có pháp môn thù thắng khế hợp với căn cơ hành giả .

Luipa được xem là bậc thầy của Tantra Mẹ . Nhưng khai ngộ cho ngài lại là một kỹ nữ trong tiền kiếp vốn là một nữ Du già hành giả ( Dakini ) . Vị Dakini thấu suốt tâm kiêu mạn vi tế về ḍng dơi , chủng tộc,  đẳng cấp c̣n đọng lại trong tâm của Luipa . Nên qua cách cúng dường cháo thiu bà gián tiếp chỉ cho ngài pháp đối trị :  Pháp môn dùng thức ăn bất tịnh .

Để đạt tới tâm siêu xuất , cần nuôi dưỡng và kết thân với cái ta căm ghét nhất . Cách tu tập này h́nh thành Tâm bất nhị - Vô phân biệt . Để biến mọi kiêu hănh , phân biệt , định kiến thành những hạnh lành như ngài Luipa biến ruột cá tanh hôi thành tiên dược .

Nếu hành giả không lănh hội được : Chân tính rỗng không thường hằng trong từng xúc niệm . Lập tức rơi vào đối đăi phân biệt . Đó là cảnh giới nhị phân của sáu nẻo luân hồi . Để đạt tới cảnh giới Niết-bàn bất nhị . Cần đạt được tâm bất nhị . Nhờ vào tâm bất nhị . Hành giả có thể nhận rơ được mùi vị chung của tất cả các pháp . Mùi vị ấy là mùi vị giải thoát thanh tịnh .

Xem xét pháp tu của ngài Luipa . Ta thấy được rơ hơn nếu hiểu được “ cá ” biểu trưng điều ǵ trong xă hội của thời ấy . Trước hết , cá cũng là chúng sinh hữu t́nh .  đối với đạo Bà-la-môn , ăn cá cũng đồng nghĩa với sự chối đạo . V́ ruột cá là thức ăn chỉ dành cho chó . Trong Vật tổ giáo ( Totem ) chó là giống thấp hèn nhất .

Thực hành một pháp tu như vậy vào thời ấy . Luipa trở thành hạng người dơ bẩn , hạ tiện . Không ai có thể đến gần hay tiếp xúc . Ắn ruột cá là cách tự sỉ nhục ḿnh . Nhằm xóa bỏ tất cả những vết tích về ḍng dơi , sự giàu sang và các đặc quyền trước kia nằm sâu thẳm của hiện hữu kiêu mạn vi tế . Đó là cái hành giả Luipa cần phát hiện .

Mặc dù pháp môn tu tập của ngài Luipa không được mô tả đầy đủ . Nhưng ta thấy rằng : Định lực của  ngài đă biến chuyển được thế giới riêng của chính ngài . Và Luipa là chủ tể thế giới do ngài kiến lập.

Sử liệu

Truyền thuyết vừa kể là căn cứ duy nhất xác định ngài Luipa đă sinh ra ở Tích Lan . Như vậy lẽ ra các văn bản của Singhaladvipa nhất định phải đề cập đến . Nhưng vào thời ấy có rất nhiều vương quốc nằm trên vùng tiểu lục địa gọi là Singhaladivpa . Trong đó có vương quốc giáp ranh với Oddiyana ; và nhiều nguồn tư liệu khác cho rằng đó là nơi ngài Luipa đă sinh ra .

Trong một tài liệu khác do học giả Buston chép lại . Luipa là con của đức vua Lalitacandra của xứ Oddiyana . Khi c̣n là thái tử , ngài Luipa có cơ duyên gặp được đạo sư Savaripa vốn là đệ tử của ngài Saraha . Đạo sư Savaripa truyền tâm ấn cho ngài Luipa trong một buổi lễ trà tỳ ( Lễ thiêu xác ) . Sau khi được Savaripa truyền tâm ấn . Luipa rời Oddiyana và thực hành hạnh Đầu đà .  Cuối cùng ngài đến bờ sông Hằng . Suốt ngày thiền định bên cạnh một đống ruột cá thối . Ngài trụ tâm vào một điểm duy nhất ( Sustained one pointed meditation)  cho đến lúc đắc Pháp .

Hai nhân vật nổi tiếng khác là Darikapa và Dengipa . Mô tả ngài Luipa như một đại sư vô úy , vô ngại và là sơ tổ của pháp môn Tantra Ân độ . Theo hai vị sư học giả này , ngài Luipa vốn là quan văn ở kinh đô Maharaja xứ Bharendra dưới triều vua Dharmapala . Thuyết này nói rằng : Khi đạo sư Savaripa du hóa tại kinh đô Maharaja . Ngài nhận ra Luipa là người hội đủ điều kiện lănh hội huyền môn của ngài nên ngài đă truyền pháp Kim cương Mandala cho Luipa .

Theo chứng cứ lịch sử , ngài Luipa sinh cùng thời với hoàng đế Dharmapala ( 770 -810 ) . Nếu ngài Luipa thọ pháp vào cuối thế kỷ 8 hoặc vào đầu thế kỷ 9 . Ta có thể ước tính niên hiệu của các đạo sư khác như : Darikapa , Dengiea , Dombi Heruka . V́ họ đều là môn đồ của Luipa .

Nhưng nếu ngài Luipa sinh vào thế kỷ 8 th́ không thể đồng thời với Minapa Macchendrannath . Mặc dù có những sự kiện trùng lập . Chẳng hạn tên của các vị theo Phạn ngữ đều có nghĩa là “ cá ” . Cả hai vị đều thuộc hệ phái Yogini Tantra . Lipa thuộc chi phái Samvara và ngài Minapa thuộc chi phái Yogini Kanda .

Thật ra Minapa xuất thân từ phái Naith Saiva ( thờ thần Siva ) và đạt danh hiệu Adi Guru . C̣n ngài Luipa không liên quan ǵ đến giáo phái Hindu . Mặc dù môn thiền quán của ngài có đặc tính của phái Sakta ( Đại mẫu ) .

Sở dĩ tên tuổi của ngài Luipa được đưa vào đầu danh sách của 84 vị đại sư đại thủ ấn . V́ tác giả cho rằng ngài Luipa chính là vị pháp sư đầu tiên của phái Đại thủ ấn . Vị thứ hai đứng vào vị trí này là Saraha . Theo tuổi tác Luipa sinh ra sau Saraha .  Mặt khác , xét theo địa vị và pháp lực . Uy danh của Saraha rất lừng lẫy trong lănh vực văn chương . Nhưng tên ngài Luipa lại gợi lên ư nghĩa Đại trí lực . Chính Đại trí lực ấy tạo cho ngài sức thần thông quán chúng .

Cả Saraha và Luipa đều xuất thân từ phái Samvara Tantra . Nhưng chính Luipa được nhận danh hiệu Guhyapati tức là Bí mật Pháp sư . Danh hiệu này đưa ngài vào địa vị của một Adi Guru trong hệ phái Samvara Tantra . Môn đồ của ḍng tu này đều tu tập theo phương pháp của Luipa . Hơn nữa , Luipa được Kim cương Thánh nữ ( Dakini Vajra Varahi ) trực tiếp khai ngộ .

Nếu ngài Luipa nhận được sự thiên khải có nguồn gốc từ Samvara Tantra tại Oddiyana . Vốn là vùng đất sản sinh ra nhiều chi phái Tantra thuộc Tantra Mẹ . Chính ngài có nhiệm vụ hoằng dương pháp môn này ở vùng đông Ấn . Cho dù nguồn gốc của chi phái Tantra này như thế nào . Luipa cũng vẫn là biểu tượng của điều ngài Saraha tôn thờ . Điều này được khẳng định trong các bài đạo ca do Saraha trước tác .

Chính phương pháp tu tập của ngài Luipa đă trở thành nguồn cảm hứng . Và khuôn mẫu tu tập cho những đạo sư lẫy lừng khác như : Kambala , Ghantapa , Indrabhuti, Jalandhara , Krsnacarya , Tilopa và Naropa . Tất cả các vị đạo sư này đều thọ tŕ pháp môn của Luipa . Và chính Marpa Dopa đă truyền ḍng Tantra này vào Tây Tạng và phái Kahygu vẫn c̣n ǵn giữ tu tập cho đến ngày nay .

Mặc dù Luipa theo Tạng ngữ nghĩa là “ Người ăn ruột cá ” - Nya Ito zhabs . Nhưng có lẽ từ này nguồn gốc từ chữ Lohita trong tiếng Bengal cổ là tên của một loài cá .  V́ thế Luipa cũng đồng nghĩa với các từ Minapa và Macchendra, Matsyendrab . Ngoài ra , tên gọi này c̣n có nhiều dạng khác nữa như Luipa , Lohipa , Luyipa , Loyipa . . .

-  -  -  -  -  -  -   -  - -

Đại Sư Thứ 2

Lilapa –
Đức Vua Ẩn Sĩ

Trong cái vút nhanh của bốn trạng thái tâm cao thượng ,
Đức vua - nhà Du già .
Con sư tử chốn rừng già ,
Vương miện là năm cḥm lông màu lam ngọc .
C̣n nhà Du-già kia ,
Vương miện là năm thức thanh tịnh .
Với mười vuốt sắc ,
Con mănh sư xé nát thịt con mồi .
Mười hạnh tốt của nhà Du-già ,
Bén như gươm đao .
Chặt đứt những quyền năng tiêu cực ,
V́ ngộ được chân lư này nên Lilapa giải thoát .

Truyền thuyết

Một ngày nọ , khi quốc vương vùng Tây Ấn đang tựa lưng ở bệ rồng . Chợt có lính canh tâu có một vị đạo sĩ muốn vào bái kiến . Nh́n vẻ cơ hàn và nét phong trần của đạo sĩ , nhà vua tỏ vẻ ái ngại nên thương xót và phán:  “ Sống rày đây mai đó, hẳn là thầy khổ lắm ? ” . “ Tâu bệ hạ, tôi không hề lấy đó làm khổ năo . Có chăng chính bệ hạ mới là kẻ đau khổ , đáng thương ”  . Đạo sĩ ung dung đáp .  “ Cớ sao thầy nói vậy ? ” . Nhà vua sửng sốt hỏi .

“ Trước hết , bệ hạ luôn sống trong nỗi lo mất ngôi , mất nước . Ḷng bệ hạ lúc nào cũng canh cánh lo sợ cơn thịnh nộ của thần dân dễ đưa tới việc tạo phản . V́ thế , nên bệ hạ đau khổ . C̣n như tôi . Vào nước không ch́m , vào lửa không cháy , độc không hại được . Lại biết thuật trường sinh bất tử, ra khỏi luân hồi ” .

Nghe lời đạo sĩ nói , nhà vua bồi hồi than rằng: “ Bạch thầy , làm thế nào quả nhân có thể bắt chước nếp sống rày đây mai đó cơ cực như thầy .   Cúi xin thầy từ bi ban cho Diệu pháp . Có cách tu nào phù hợp với hoàn cảnh của quả nhân . Không ĺa ngôi báu , vợ đẹp con xinh , cung điện nguy nga mà vẫn tu thành chánh quả ? ” . Bạch xong , vua phủ phục năm vóc sát đất khẩn cầu đạo sĩ truyền pháp . Đạo sĩ hoan hỉ nhận lời trao tâm pháp cho nhà vua . Nghe xong pháp từ vua liền vào định .

Kể từ đó , nhà vua thường tu tập thiền định ngay trên ngai vàng . Thậm chí khi cùng các phi tử thưởng thức vũ nhạc . Và đức vua được mệnh danh là Lilapa . V́ tính ưa lạc thú và yêu thanh sắc của ngài . Cách tu của Lilapa là chú mục bất động vào chiếc nhẫn ngài đeo ở bàn tay phải .

Khi đă đắc định , vua bèn quán thân tướng của thủ thần ( Yidam ) Hevaja cùng quyến thuộc của ngài . Lilapa ngộ được chân lư rốt ráo và đắc thần thông Đại thủ ấn sau khi thành tựu pháp quán này .

Hành tŕ

Qua truyền thuyết của ngài Lilapa . Ta thấy một khi giáo pháp của bậc thầy khế hợp với căn cơ đệ tử . Người ấy không nhất thiết phải ĺa bỏ đời sống gia đ́nh , từ bỏ các thú vui ngũ dục . Vẫn có thể tu tập đạt tới cứu cánh Niết-bàn . Kim cương thừa trở nên ngày càng cực thịnh . Trước hết do khuynh hướng chung của xă hội Ấn độ thời ấy . Khi quyền lực của giai cấp Bà-la-Môn bắt đầu suy sụp . 

Đa thần giáo phát triển rộng răi trong các giai tầng thấp hơn . Lối tu khổ hạnh không c̣n sức thu hút quần chúng và chủ nghĩa hưởng lạc xuất hiện . Kim cương thừa vừa là nhân vừa là quả của sự kết hợp giữa dục lạc và giải thoát .

Trong giáo pháp Kim cương thừa , triết học Nhất nguyên ( Vạn pháp duy tâm tạo ) của Ấn độ đă đạt đến chỗ cùng tột của nó . Đó là xem bản chất của hành vi con người cũng đồng với các bậc thánh . Tuy nhiên kẻ cầu đạo phải có đủ sức dũng mănh tinh tấn . Dám thừa nhận ḿnh vốn là Phật và cảnh giới quanh ḿnh vốn là cơi Phật .  Điều quan trọng nhất là hành giả phải gặp được chân sư . 

Vị chân sư này sẽ xem xét căn cơ mà truyền pháp khế hợp với kẻ cầu đạo . Hướng môn sinh đến chân lư giải thoát rốt ráo để cứu độ chúng sinh . Với tâm vô ngă chứ không hướng đến dục lạc . Ngoài ra căn cơ của hành giả cần ở vào giai đoạn chin mùi . Nghĩa là phải dốc một ḷng cầu chân lư giải thoát .

Ngài Luipa có đủ những cơ duyên ấy . Nên sau khi được điểm đạo ngài đă say mê tu tập pháp thiền định trụ tâm vào một điểm duy nhất ( One pointed Samadhi ) . Đây là việc khó làm với những ai có đời sống bận rộn . Hay đang ch́m đắm trong dục lạc .  Bởi ngay các hành giả Mật tông ( Tantrika) muốn nhất tâm quán điểm như thế . Cũng phải t́m nơi an tịnh như mật thất hay hang động hẻo lánh để thực hành .

Nhưng trong Kim cương thừa, một khi hành giả hội đủ các duyên và được chân sư khai ngộ . Việc xuất gia không theo nghĩa thông thường “ Ly gia cắt ái ” . Được hiểu như là trạng thái của tâm - Trạng thái dứt bỏ mọi vọng tưởng và phân biệt đối đăi . Tâm an tịnh chính là mật thất .  Khi đă an trú trong tâm an tịnh , hành giả tự do quan sát cảnh giới chuyển di bên ngoài . Nhưng tâm vẫn không bị thôi thúc xô đẩy .  Hành giả liền nhận biết rẳng “ Không ” không ĺa khỏi “ Sắc ” .

Đây nói trụ tâm vào một điểm tức thâm nhập vào đối tượng . Trụ tâm vào một điểm là giai đoạn sơ khởi . Như thế hành giả chỉ mới nhập vào Đàn pháp ( Mandala ) . Lúc ấy , tướng thủ thần Heruka và quyến thuộc chưa hiện rơ . Hành giả phải tiếp tục quán tưởng cho đến lúc thân tướng của vị thần này xuất hiện đầy đủ , rơ ràng đến từng chi tiết , màu sắc phân minh .

Sau đó , quán tưởng hai vị thủ thần nhập vào nhau giữa trung tâm đàn . Đồng thời quán mười sáu vị Kim cương thủ vây quanh . Mỗi mỗi hiện ra đầy đủ với các màu sắc khác biệt . Thành tựu giai đoạn này tức thời hành giả đắc pháp . Pháp quán này gọi là phép quán về tính hư vọng của sắc . V́ sắc tức là tuớng của thủ thần cùng quyến thuộc vốn từ hư không mà hiện ra .

Trên mặt nhẫn của ngài Lilapa vốn không có tướng của các thủ thần . V́ vận tâm quán tưởng mà có . Nên gọi sắc ấy là từ nơi không . V́ chổ nghịch lư này, nên gọi : Sắc tức là Không ” . Đây là Hevajra Mandala . Hevajra c̣n có tên là Heruka.  Hevajra tantra tức Yoginitantra chính là Tantra Mẹ .

Trong bài kệ xưng tán đệ nhất nghĩa đế . Lilapa tán dương Tuyết sư ( Sư tử tuyết ) là chủ tể bí mật của muôn loài .  Con sư tử cái cho loại sữa . Ai uống vào đều được trường sinh bất tử . Nhưng loại sữa đặc biệt này chỉ được đựng trong b́nh ngọc mà thôi . Năm cḥm lông xanh trên bờm con sư tử đực tượng trưng cho : Năm thức thanh tịnh . Mười vuốt chân tượng trưng cho Mười Ba-la-mật . Thành tŕ bất khả xâm phạm là Bốn tâm vô lượng .

Theo một số các tượng thường thấy th́ tượng thủ thần Hevajra màu xanh có tám mặt , bốn tay và bốn chân . Trong tư thế ôm choàng minh phi của ngài là Nairatma có khuôn mặt trắng , hai tay và hai chân . Cả hai đều trong tư thế nhảy múa . Một chân co , một chân duỗi . Có tượng vẽ ngài mười sáu tay . Mỗi tay cầm một cái đầu lâu . Nairatma tay cầm đầu lâu , tay cầm câu liêm trong dáng đứng uy vũ chống lại pháp thuật của bốn quỷ thần gồm Phạm thiên , Visnu , Siva và Sakra ( Đế thích ) .

H́nh Phạm Thiên màu vàng ,
Tượng trưng cho ngũ ma .
H́nh Visnu màu xanh ,
Tượng trưng cho nhục cảm .
H́nh  Siva màu trắng ,
Tượng trưng cho sự hủy diệt .
H́nh Sakra màu trắng ,
Tượng trưng cho kiêu mạn và tham đắm .

- - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Đại sư thứ 3

Virupa
Chân Sư Của Các Thiên Nữ

Chân lư hiển nhiên thuộc về ta
Chỉ cần an trú trong thực tướng
Chẳng nghĩ, chẳng suy, chẳng nắm bắt
Chẳng phải của ta, chẳng là ta
Không cố chấp
Không cầu tỉnh giác
Chẳng phải thường hằng
Chẳng phải hằng
Giải thoát rốt ráo và viên măn.

Truyền thuyết

Ngài Virupa vốn sinh trưởng ở miền đông xứ Triputa thuộc vương quốc Bengal dưới thời vua Devapala . Ngay từ thuở thiếu thời , ngài đă qui y tu học tại tu viện Somapuri . Không lâu sau đó, ngài nằm mộng thấy Kim cương nữ Bồ Tát trao cho tâm pháp . Với ḷng mong muốn mau thành tựu , ngài gia công tŕ tụng Kim cương chân ngôn hai mươi triệu biến trong suốt thời gian 12 năm . Nhưng ngài vẫn không thấy có dấu hiệu chứng đắc .

Một hôm , quá ư thất vọng . Ngài ném xâu chuỗi vào hố xí và rủa thầm : “ Mấy cái hạt vô tích sự này . Chẳng liên quan ǵ đến niềm an lạc của ta ” . Tuy nhiên , vào một đêm trong khi đang hành tŕ công phu . Sự bừng ngộ xảy ra trong tâm thức , ngài chợt nhớ đến xâu chuỗi đă mất . Tức th́ Kim cương nữ Bồ tát hiện ra trao lại cho ngài xâu chuỗi và dạy rằng : “ Ngươi chớ phiền năo . Ta sẽ luôn ở bên ngươi để hộ tŕ .  Hăy loại bỏ các kiến chấp phiền năo mà gắng công tu tập ” . Sau đó ngài Virupa tu tập Kim cương tâm pháp thêm mười hai năm nữa th́ ngài thấu triệt Đệ nhất nghĩa đế . Kể từ ấy ngài vượt thoát ra ngoài ṿng sinh tử .

Mặc dù vậy , Virupa là ngựi vốn quen rượu thịt . Hằng ngày , người hầu thường đi ra ngoài kiếm rượu thịt để dâng cho ngài . Cho đến một hôm người hầu lén bắt trộm những con chim câu của tu viện làm thịt . Thấy bỗng dưng mất những con chim câu, vị giám viện rung chuông họp tăng chúng lại tra hỏi : “ Ai trong các người đă ăn thịt những con chim câu của tu viện ? ” .

Chúng tăng đồng thanh đáp : “ Bạch thầy , việc này vốn chưa từng xảy ra . Có điều chắc chắn là không ai trong chúng tôi lại có thể sát hại những con chim câu ấy ” . Chợt một vị tăng nh́n vào cửa sổ pḥng của Virupa , thấy ngài đang dùng thịt chim câu với rượu . Lập tức Virupa bị trục xuất ra khỏi tu viện . Gửi lại chiếc b́nh bát nơi bàn thờ .

Virupa đảnh lễ lần cuối cùng trước tượng đức Thế Tôn , bậc đạo Sư mà ngài đă thờ phụng hơn 24 năm qua . Rồi ra đi . Lúc rời cổng tu viện , một ông tăng chặn lại hỏi : “ Thầy sẽ đi về đâu ? ” . Ngài đáp: “ Ta đi theo con đường của riêng của ta ” .

Gần tu viện Somapuri có một hồ sen lớn , quanh năm phủ đầy lá . Khi đến gần hồ, Virupa liền ướm thử chân trên một lá sen để xem có ch́m không . Đoạn ngài niệm danh hiệu Phật , rồi bước thoăn thoắt trên những cánh sen để đi qua bên kia bờ hồ . Chứng kiến cảnh Virupa hiển lộ thần thông như thế,  chúng tăng đều kinh hoàng, ḷng tràn đầy hối hận .

Họ tiến lại gần , năm vóc sát đất đảnh lễ và sờ vào chân ngài với niềm cung kính vô biên : “ Ngài thật có pháp lực vô biên . Cớ sao lại nhẫn tâm giết hại những con chim câu của chúng tôi ? ” . Virupa mỉm cười đáp : “ Những ǵ các ông thấy biết cũng chỉ là ảo ảnh . Giống như các hiện tượng thông thường khác trong thế gian ” . Nói xong , sư sai người hầu mang lại những mẫu xương , thịt vụn của chim . Bỏ vào ḷng bàn tay trái đưa lên cao , tay phải khẻ khảy móng mấy cái . Những con chim câu liền sống lại và bay đi . Trông chúng to đẹp và khỏe hơn trước .

Từ bỏ lối sống của một nhà sư trong tu viện Somapuri . Virupa trở thành nhà Du-già khất thực . Lang thang đến bờ sông Hằng , ngài xin vị nữ thần sông một ít vật thực . Nhưng nữ thần tỏ ra kiêu kỳ từ chối khiến sư nổi giận rống lên một tiếng rồi tách nước sông làm đôi để đi qua . Đi măi đến thị trấn Kanasata . Tại đây , ngài ghé lại tửu quán để dùng cơm và uống rượu . Cơm trắng rượu nồng là hai thứ mà ngài ưa thích nhất . Thấy Virupa uống rượu liên miên , chủ quán có ư định đ̣i tiền trước . 

Virupa cười bảo : “ Ta sẽ ra đi khi trời tối.  Lúc ấy trả tiền cũng không muộn ”  . Nói xong , tay trái ngài cầm dao quán chỉ thẳng vào mặt trời . Dùng phép “ Định thân ” chặn đứng mặt trời . Chia bầu trời làm thành hai phần : Bên tối và một bên sáng . Cứ như thế trải qua suốt mấy ngày , ngài tiếp tục uống và dùng lửa tam muội thiêu đốt năm trăm ngàn quỷ thần trong vùng khiến hạn hán xảy ra .

Đức vua xứ Kanasata lấy làm kinh hoàng về việc lạ chưa từng có ở đất nước . Nhưng không rơ duyên do ǵ . Cả triều đ́nh cũng bó tay không biết tai họa từ đâu mà đến.  Cuối cùng, nữ thần Mặt Trời hiện ra báo cho nhà vua . Sở dĩ có việc lạ như thế là do hành giả Du-già nợ tiền cơm rượu và chính nữ thần này cũng đang phải khốn đốn . Nhà vua bèn sai người đến trả tiền cho chủ quán .  Virupa biến mất .

Ít lâu sau , Virupa du hành đến Indra . Đây là vùng đất có nhiều tín đồ Bà-la-môn rất cuồng tín . Virupa t́nh cờ  đi ngang qua một tượng thần Siva bằng đá cao đến hơn 20 mét . Những tín đồ Bà-la-môn đang canh giữ tượng thần buộc ngài phải vái chào thánh tượng Siva . Ngài chối từ và nói rằng : “ Bậc trưởng thượng mà phải vái chào kẻ dưới hay sao ? ” .

Vua xứ Indra cũng có mặt ở đó , bèn lên tiếng bênh vực cho các đạo sĩ Bà-la-môn .  Nhà vua phán : “ Nếu không vái chào thánh tượng . Ngươi sẽ phải tội chết ”.  Ngài nói : “ Nhưng nếu đảnh lễ vị thần này , ta sẽ mắc tội lớn hơn tội chết ” . Vua nói rằng : “ Ngươi cứ làm .  Hăy để tội ấy trẫm gánh chịu ” . Virupa liền chắp tay cung kính . Tức th́ , tượng thần Siva nứt đôi , một giọng nói rền vang như sấm sét từ cơi trời vọng xuống : “ Đệ tử có mặt . Bạch thầy có điều ǵ dậy bảo ? ” . Ngài Virupa nói : “ Nay ta quy y cho ngươi . Hăy phát nguyện hộ tŕ chánh pháp ” . Thần Siva hiện ra , phát nguyện đúng theo lời dạy . Rồi tượng đá khép lại nguyên vẹn như cũ .

Từ Indra , Virupa lại vân du đến Devikota thuộc miền đông Ấn . Hầu hết cư dân vùng này đều là phù thủy ăn thịt người , uống máu nóng . Họ thường ŕnh rập bỏ bùa mê các khách bộ hành t́nh cờ qua lại vùng này để bắt đem về tế lễ . Một ngày nọ Virupa cùng một thiếu niên đi vào vùng này.  Cả hai dừng chân ở một ngôi đền thờ cuối làng để nghỉ qua đêm .  Trong cuộc tương ngộ này  Virupa ban cho chú bé một câu thần chú để hộ thân . 

Cả hai lăn ra ngủ vùi v́ quá mệt mỏi sau chặng đường dài . Lúc ấy bọn phù thủy đang tụ tập để tế lễ . Họ đă có thịt thú vật nhưng c̣n thiếu máu người để cử hành đúng nghi thức của cuộc tế . Gă phù thủy cầm đầu đă bỏ bùa Virupa và cậu bé vào buổi sáng , nên sai thuộc hạ đến ngôi đền để bắt hai nạn nhân của chúng .

Nhờ mật chú hộ thân , cơ thể của cậu bé như dính chặt xuống mặt đất . Khiến bọn phù thủy dùng hết sức cũng không tài nào nhấc lên nổi . Chúng đành khiêng một ḿnh Virupa đang c̣n say ngủ về nơi ở . Bọn phù thủy tưới rượu lên khắp thân h́nh Virupa . Tay cầm dao , miệng cười rú lên một cách ma quái . 

Tiếng cười mỗi lúc một lớn, nhưng khi chúng chưa dứt tiếng cười, . Virupa liền ngồi choàng dậy cất tiếng cười . Lần này, tiếng cười của Virupa to hơn gấp ngàn lần tiếng cười của bọn phù thủy . Âm thanh chấn động đến tam thiên đại thiên thế giới, khiến bọn chúng mất hết ư thức . So với tiếng cười của Virupa,  tiếng cười của bọn phù thủy chỉ như tiếng khóc của trẻ sơ sinh .

Quá kinh sợ , bọn phù thủy khẩn nài xin ngài tha tội . Sau khi dùng thần lực nhiếp phục bọn phù thủy , Virupa làm lễ quy y cho chúng .  Ngài dạy: “ Nếu các ngươi một ḷng chí tín , quy ngưỡng Tam bảo th́ ta luôn kề cận các ngươi để hộ tŕ, tránh khỏi mọi sự tổn hại . Ngày ngày các ngươi phải chuyên cần tu tập hạnh Bồ Tát .  Nếu các ngươi giải đăi , tự thân sẽ bị mất đi một cốc máu . 

Nếu các ngươi quay lưng lại với chánh pháp quay trở về với loài quỷ thần . Chiếc đĩa này sẽ chém ĺa đầu các ngươi . Lúc bấy giờ, Bắc phương Quỷ Vương sẽ đến hút cạn máu của các ngươi ” . Bọn phù thủy nhất mực vâng lời dạy của ngài Virupa .

Tương truyền , ngày nay người ta vẫn c̣n thấy h́nh dáng chiếc dĩa này và Bắc phương Quỷ Vương trong dải Ngân hà . Sau khi nhiếp phục bọn phù thủy , Virupa lại vân du sang xứ khác . Ít lâu sau, ngài lại trở về viếng thăm vùng Dekikotta . 

Lúc bấy giờ , vị đại Phạm Thiên và thị giả của ngài là Umadevi . Dùng thần thông tạo ra một thành phố gồm bốn triệu cư dân để tôn vinh và thờ phụng ngài . Tất cả vật thực dành cho buổi lễ cung nghinh ngài Virupa trở lại Dekikotta được chư thiên mang đến từ 33 cơi trời trong Dục giới . Truyền thuyết  nói rằng ngài thọ đến 700 tuổi mới viên tịch .

Hành tŕ

Chướng ngại của Virupa cũng chính là phiền năo của các hành giả Mật tông lúc c̣n sơ cơ . Trở lực ấy có lẽ do quá đem tâm dục cầu khiến sắc ư bột phát trong giai đoạn tu định . Cũng v́ Kiến chấp ( Preconception ) với Chân tính ( Nature of reality ) . Kim Cương thánh nữ hiện ra như một thực thể nội tại vô biên đă phá vỡ cái ṿng lẩn quẩn mà Virupa bị kẹt trong đó suốt 12 năm và giải thoát ngài ra khỏi sự bế tắc của tâm thức . Không dựa vào sự vật bên ngoài , vất bỏ xâu chuỗi để đi vào bản tâm thanh tịnh . Đó là nhận thức đầy tính dứt khoát của Virupa .


Trong kinh dạy rằng :

“ Bản tâm thanh tịnh được gọi là hạt châu như ư ”
.
Bản tâm vốn không , các pháp lưu xuất thành niệm là do các căn .
Trong thiền định các kiến chấp tạo nên vọng tưởng biến thành phiền năo .

Sử liệu

Nơi ngài Virupa trải qua 12 năm tu học chính là đại tu viện Somapuri . Một trong những tu viện lớn nhất ở vùng đông Ấn , được xây dựng dưới triều đại Pala ( gồm xứ Bengal và Bihar ) . Các vua thuộc triều đại này vốn là những đại thí chủ của Mật tông . Nhà sư học giả Taranatha cho rằng vua Devapala ( 810-840 ) đă xây dựng tu viện này . Nhưng có lẽ nó  đă được tạo dựng trước đó nhiều năm do công của vua Dhamlapaka ( 770-810 ) . Một nhân vật sống cùng thời với Virupa .

Đến nay , người ta vẫn chưa xác định được vị trí chính xác của tu viện này . Nhưng có thể đó là khu vực Ompur ở Bengal . Có điều đáng nói là thanh qui chi phối tăng chúng ở đây đă được sư Santaraksita truyền sang Tây Tạng và vẫn c̣n được áp dụng cho đến bây giờ .

Tripura , sinh quán của ngài gồm những khu vực khác nhau như Radhakisorapura - Assam Devikotta . Các địa danh này cũng là tên của các đền thờ Mẫu thần ( Sakta ) . Tọa lạc trong những khu rừng sâu khó vào . Nơi đó , các bộ tộc theo giáo pháp Đại mẫu có tập tục tế người như theo chuyện kể ở Kamarupa mà Virupa đă cải đạo cho các bộ lạc này .

Từ ‘ Witch ” theo Tạng ngữ là Phra Men ( Vetala ) là một loại ma thi chuyên ăn thịt người để hoàn sinh . Nhưng theo kinh văn Tây Tạng . Đây là những nữ phù thủy bậc thấp chuyên về ma thuật và sử dụng linh phù . Có một mẫu chuyện khác kể rằng Virupa được các Thiên nữ ( Dikini ) dâng cúng hoa sen và ốc tiên ( Hai biểu tượng của âm dương ) .

Với sự giúp đỡ của một Phật tử , Virupa đến  núi Sri Parvata . Tại đây , ngài A-xà-lê LongTrí Bồ tát đă truyền thụ cho ngài các pháp thuật của Trời Dạ Ma ( Yama ) . Với các pháp thuật này , Virupa quay lại Devikotta hàng phục các phù thủy và khiến họ qui y Tam Bảo . Lại có thuyết nói rằng Virupa là người lập ra pháp môn Rakta Yamari Tantra và một số các phương pháp thiền định có liên quan đến bộ môn Tantra này .

Xét theo cung cách mà Virupa cải đạo cho dân chúng vùng Devikotta cũng như cách hàng phục Trời đại Phạm Thiên ở Indra . Chúng ta liên tưởng đến vị đạo sư Mật tông Liên Hoa Sanh cùng thời với ngài . Cũng dùng những phương cách tương tự để nhiếp phục và cải đạo cho những người theo đạo Bon ở Tây Tạng .  Theo kinh văn của ḍng tu Yogini Candika ( The Mystic Heat ) . Virupa chính là nhà sư Sridramapala và Nalanda là tu viện mà Virupa có lần đến tu học . Sau đó bị trục xuất và Orissa chính là nơi ngài thi triển tửu lượng .

Ngoài ra , có điểm phù hợp với câu chuyện thần Siva nứt ra khi Virupa chắp tay tại Somanath . V́ tại Samrastra có một tượng đá của đại Phạm Thiên ( Mahadeva ) .  Bức tượng đá khổng lồ rất nổi tiếng này bị quân Hồi giáo phá hủy vào năm 1015 .

- - - - - - - - - - - - - - -

Đại sư thứ 4

Dombipa
Người Cưỡi Cọp

Viên đá của nhà triết học ,
Biến sắt trở thành vàng .
Năng lực tự nhiên của viên đá quí ,
Biến đam mê trở thành thức thanh tịnh .

Truyền thuyết

Dombipa vốn là quốc vương xứ Ma-kiệt-đà ( Magadha ) .  Ngài được đạo sư Virupa khai ngộ và truyền tâm ấn . Vị quốc vương ngộ đạo này thương yêu thần dân như con đỏ . Tuy nhiên , dân chúng vẫn không biết ngài là môn đồ của Mật tông . Họ chỉ biết ngài là vị vua hết ḷng thương yêu và chăm lo đời sống nhân dân .

Để đất nước có một cuộc sống an lạc . Ngài cho vời viên đại thần đến và dạy :

“ V́ nghiệp quả đời trước nên đất nước ta thường xảy ra dịch bệnh và nạn đạo tặc . Nay để tránh tai họa cho muôn dân . Ngươi mau đúc một cái chuông đồng lớn treo lên một cây đại thụ . Mỗi khi thấy có hiện tượng nguy biến th́ đánh chuông ấy . Tức nhiên tai họa tiêu trừ ” .

Viên đại thần y lệnh.  Kể từ đó trong nước bớt nạn trộm cướp và dịch bệnh . Đến một ngày nọ , có đoàn hát rong từ phương xa đến để tŕnh diễn cho vua xem . Trong đám người thấp hèn có một thiếu nữ 12 tuổi xinh đẹp diễm lệ . Ai thoạt nh́n cũng không khỏi đem ḷng yêu thương . Nhà vua bèn tỏ ư nhận nàng về làm bầu bạn .  Ngài bí mật ra lệnh cho bọn họ dâng nàng cho ngài .

Một người trong bọn tâu rằng : “ Tâu đại vương , ngài là bậc cao quư . Chúng tôi chỉ là kẻ tôi tớ hạ tiện mà mọi người khinh khi xa lánh . Cớ sao đại vương lại nghĩ đến một việc kết hợp không tương xứng như thế ? ” . Nhưng vua cứ khăng khăng làm theo ư ḿnh và ban thưởng vàng bạc cho đoàn hát rong .

Thế là , vua bí mật giấu nàng trong hậu cung suốt 12 năm . Sau đó mọi người mới phát hiện ra sự có mặt của nàng. Tiếng đồn loan đi khắp nơi . Người ta nói với nhau rằng : “ Đức vua đă chung sống với một phụ nữ thuộc tầng lớp hạ tiện . Điều này thật khó dung thứ ” . Trước áp lực của thần dân và triều đ́nh, nhà vua buộc phải thoái vị và giao quyền bính lại cho thái tử .

Vua rời hoàng cung và cùng nàng phi ấy đi vào rừng sâu sống . Tại nơi hoang dă, cả hai cùng nhau tu luyện môn Du-già Mật pháp ( Tantric Yoga ) trong 12 năm . Kể từ khi vua thoái vị . Đất nước lâm vào cảnh rối ren . Triều thần họp lại quyết định thỉnh cầu cựu vương quay về chấp chính .

Các sứ giả triều đ́nh đi vào rừng sâu để t́m ngài . Khi gần đến nơi , họ nh́n thấy cựu vương đang ngồi thiền định dưới một gốc cây đại thụ . C̣n vị phi nữ của ngài đang bước trên những cánh sen để lấy nước sương mai về cúng dường chủ nhân . Họ ngạc nhiên quay về tâu với triều đ́nh .

Sau khi nghe các sứ giả thuật lại sự việc mà họ đă chứng kiến . Quần thần cùng nhân dân trong xứ liền kéo nhau đi đón cựu vương . Nhận lời thỉnh cầu cùng người thiếp cưỡi trên ḿnh con bạch hổ . Tay roi là con bạch xà rời khỏi khu rừng rậm . Tất cả mọi người nh́n thấy cảnh ấy đều không khỏi khiếp sợ .

Chào hỏi mọi người xong , nhà vua phán : “ Ta đă phải mất địa vị cao quí chỉ v́ sự kết hợp với người phụ nữ ở tầng lớp hạ tiện . Nay các ngươi yêu cầu ta trở lại ngai vàng là một điều không thích hợp . Chỉ có cái chết mới mong xóa bỏ được những thành kiến về giai cấp . Vậy các ngươi hăy hỏa thiêu chúng ta ” .

Theo tập tục Ấn độ, để xóa bỏ những dấu vết tội lỗi hoặc để chứng minh sự vô tội của ḿnh . Người ta đưa nạn nhân lên giàn hỏa và đốt trong bảy ngày . Nếu người ấy c̣n sống th́ sẽ được thừa nhận là vô tội . Lễ hỏa thiêu nhà vua cùng người thiếp diễn ra trong suốt bảy ngày đêm . Đến khi lửa tàn, mọi người đến gần quan sát .  Họ thấy quanh thân thể của hai người dường như có một màn sương mong manh . Y phục trên người vẫn y nguyên không một vết cháy xém . Mọi nghi ngờ đều tan biến trong ḷng mọi người .

Khi ấy , nhà vua trỗi dậy . Bước ra khỏi đống tro tàn gọi mọi người lại bảo : “ Hỡi dân chúng mến yêu của ta . Nếu các ngươi noi được gương tu tập . Ta sẽ ở lại trị v́ các ngươi . Nếu như các người không thể tu tập để tự cứu lấy bản thân . Thế th́ sự có mặt của ta phỏng có ích ǵ ?  . Quyền lực chỉ là một chút ít lợi lộc nhỏ nhoi .  Công đức tu hành mới là to lớn . Vả lại , vương quốc của ta không phải là vương quốc của quyền lực mà là vương quốc của chân lư ” . Nói xong , vua liền từ biệt.

Hành tŕ

Tại Ấn độ , người ta tin rằng tiếng chuông có khả năng xua đuổi tà ma và làm thanh tịnh tâm trí . Chiếc chuông Dombipa cho dựng lên có nhiều công năng để cảnh giác nạn đạo tặc . Báo động mối nguy về thiên tai , dịch họa hoặc xua đuổi các quỷ thần  tà ma  uế trược khi có dịch bệnh . Và làm tịnh tâm trí và tăng trưởng thiện nghiệp . Tiếng chuông ngân là biểu tượng của sự tỉnh giác . Khi nghe tiếng chuông ngân  tâm thức có thể dứt hết các niệm trần để thâm nhập vào cảnh giới thanh tịnh Không tính ( Etiness ) .

Ngoài ra , cuộc hôn nhân không cùng đẳng cấp là điều cấm kỵ của xă hội thời bấy giờ . Kẻ vi phạm sẽ bị mọi người khai trừ khỏi giai cấp và có khi bị trừng phạt nặng nề . Trong Phật giáo và đặc biệt đối với Mật tông khuynh hướng chống lại giai cấp . Nhưng không phải là sự đối kháng gay gắt nhằm lật đổ giai cấp hay cải tạo xă hội như các học thuyết khác . Vua bỏ ngôi , quan từ chức để đi tu chính là hành động từ bỏ giai cấp của ḿnh . Đó cũng là cách chống đối quan điểm giai cấp .

Nhưng đối với quần chúng thời ấy . Sự chống đối không bị ghép tội . V́ đây là sự miễn trừ đối với thần thánh . Hơn nữa , với người tu hành muốn đạt tới Phật tính . Điều căn bản là cần phải diệt hết các kiến chấp về giai cấp . Chính v́ vậy mà các hành giả Du-già thường chọn người bạn đời , kẻ đạo hữu từ giai tầng thấp trong xă hội , để trưởng dưỡng tâm vô phân biệt . Với các phương thức tu tập đặc biệt của Du-già . Hành giả có thể biến dục tưởng thành trí huệ .

Đối với một hành giả Du-già . Người vợ tinh thần ( Mystic consort ) hay đạo hữu chính là sắc tướng của Nghiệp ấn ( Karmamudra ) ; dùng để ấn chứng các giai đoạn tu tập ba nghiệp ( Thân , khẩu , ư ) . Người vợ tinh thần của Dombipa chính là hóa thân của Kim cương Bồ tát .

Pháp tu của họ là kết hợp giữa : Dục lạc ( Pleasure ) và Không tính ( Emptiness ) .  Phương pháp này dùng để kích động luồng Hỏa hầu ( Kundalini ) ở trung tâm Tính dục ( Sexual Chakra ) . Khiến làm lưu thông các Luân xa ( Yếu huyệt ) trong cơ thể .

Sử liệu

Theo tài liệu của Taranatha . Dombipa vốn là vua xứ Tripura , quê hương của đạo sư Virupa - Vị thầy tế độ của Dombi . Tương truyền : Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giáo hóa thần dân trong nước . Dombipa cùng vợ ngài vân du khắp nơi dùng thần thông để lợi lạc quần sinh , nhiếp phục ngoại đạo và khai ngộ cho những kẻ có cơ duyên . Có lần ngài cưỡi cọp bay ngang qua thành Radha để nhiếp phục vị quốc vuơng xứ này . Và tại Karmataka , miền nam Ấn độ . Dombipa đă truyền giáo pháp cho năm trăm môn đồ .

Dombipa c̣n được biết dưới danh hiệu khác là Dombi Heruka . Dombipa nghĩa : Vị chúa của Dombi và Dombi cũng là tên của vợ ngài . Heruka là tiếng ghép giữa SamvaraHevajra . Đó cũng là pháp hiệu của một Đạo sư ( Siddha ) . V́ thế , Dombi là Hevajra Dombi Heruka tạo nên nhiều bộ luận có liên quan đến Tantra Mẹ . Tác phẩm tiêu biểu nhất là Ekavira-Saddha . Ngài sống vào cuối thế kỷ 8 đến đầu thế kỷ 9 .

- - - - - - - - - - - - - -
Đại sư thứ 5

Savaripa
Người Thợ Săn

Trong khu rừng hoang vu ,
Một con nai ẩn náu .
Con nai có tên là chán bỏ ,
Kéo cánh cung của phương tiện là trí tuệ .
Buông chiếc tên chân lư ,
Con nai chết .
Ừ , Tư tưởng chết ,
Thịt xương ấy là bữa tiệc của bất nhị .
Thuần một vị thanh tịnh mà thôi ,
Và mục đích ta đă đạt đến rồi .

Truyền thuyết

Tại vùng núi Vikrama , có một người thợ săn tên là Savaripa . Ông giết hại muông thú để sống và sống để giết hại muông thú . Nhưng đó là nghề nghiệp không mong muốn . Bồ Tát Quán Thế Ấm động ḷng muốn giải thóat cho ông khỏi cái ṿng lẩn quẩn ấy . Bèn dùng thần thông hóa thành một người thợ săn đón ông ở giữa đường. “ Ông là ai ? ”  - Người thợ săn Savaripa hỏi .

“ Ta cũng là thợ săn như ông ” .  “ Ông từ đâu tới ? ” . “ Rất xa ” .“ Thế với một mũi tên , ông có thể bắn hạ bao nhiêu con nai ? ” . Savaripa hỏi với vẻ tự hào về tài thiện xạ của ḿnh . Bồ Tát đáp : “ Khoảng chừng 300 con hoặc hơn nữa ” . “ Thế th́ ta muốn xem tài của ông ” . Bồ Tát nhận lời thách thức của Savaripa .

Sáng sớm hôm sau . Y hẹn , Bồ Tát đưa Savaripa đến một nơi có sẵn 500 con nai do ngài dùng sức thần thông hiện ra . Người thợ săn vừa trông thấy bầy nai và đưa tay chỉ : “ Ḱa , cả bầy nhiều như thế . Ông có khả năng hạ được bao nhiêu ? ” . “ Ta sẽ hạ một lúc 500 con ” . Savaripa có vẻ không hài ḷng và đề nghị : “ Sao ông không bắn trước 100 con thử xem ? ” . Bồ Tát liền bắn một mũi tên , 100 con nai cùng ngă lăn ra chết . Bồ Tát bảo Savaripa mang một con về nhà . Nhưng khi cúi xuống để vác con nai , Savaripa vận hết sức lực vẫn không tài nào nhắc lên được .  Lúc ấy , ḷng kiêu hănh của y biến mất . Trên đường về , Savaripa khẩn khoản xin Bồ Tát dạy cho y cách bắn cung kỳ diệu ấy. 

Ngài nhận lời nhưng buộc Savaripa phải chay tịnh trong ṿng một tháng . Nhờ vậy, hai vợ chồng Savaripa bớt được nghiệp sát sanh trong thời gian một tháng . Sau thời gian ấy , Bồ Tát quay lại và bảo Savaripa rằng : “ Nếu ông thực ḷng muốn học thuật bắn cung vi diệu của ta . Trước hết ông phải khởi ḷng thương xót tất cả chúng sinh và ừ bỏ rượu thịt th́ việc học mới mau chóng thành tựu ” .

Savaripa đồng ư không một chút ngần ngừ .  Thời gian ấn định trôi qua , Bồ Tát trở lại , Savaripa nồng nhiệt đón chào . Nhưng Bồ Tát chẳng đả động ǵ đến việc dạy dỗ . Ngài vẽ một ṿng tṛn Mandala và rải một lớp hoa tươi lên .  Rồi Bồ Tát bảo hai vợ chồng người thợ săn : “ Các ngươi thử nh́n vào xem ” . Khi nh́n vào ṿng tṛn kỳ diệu . Cả hai thấy h́nh ảnh họ đang bị lửa thiêu đốt trong địa ngục . Quá kinh hoàng , họ không thốt nên lời .

“ Các ngươi thấy những ǵ ? ” . Bồ Tát hỏi : “ Chúng tôi thấy bản thân ḿnh bị thiêu đốt trong địa ngục ” . Cuối cùng, Savaripa gắng gượng trả lời : “ Các ngươi có sợ không ? ” . “ Dĩ nhiên , chúng tôi rất sợ ” . “ Các ngươi có muốn tránh khỏi nạn ấy không ? ” . “ Chúng tôi rất muốn , nhưng biết phải làm sao ? ” . “ Chính các ngươi có thể tự cứu lấy ḿnh ” .

Bồ Tát liền giảng về nghiệp quả cho hai người nghe .  Sau đó là thuyết về Bốn tâm vô lượngsáu pháp Ba-la-mật . Ngài nói : “ Hậu quả đời sau của nghiệp giết hại là thác sinh vào địa ngục . Hiện thời thường gặp nạn tai bất ngờ , thọ mạng ngắn ngủi . Nếu người từ bỏ ác nghiệp , tu tập hạnh lành . Tích lũy công đức , không những thọ mạng lâu dài mà c̣n có thể tu thành quả Phật ” . Nhận thấy Savaripa ngộ chánh pháp . Bồ Tát dùng phép thần thông đưa Savaripa lên đến đỉnh núi Dan-ti tu tập thiền định trong 12 năm . Sau thời gian dài tu tập , Savaripa xuất định, xuống núi đi t́m thầy ḿnh .

Bồ Tát hiện ra bảo : “ Này,  thiện nam tử . Cảnh giới Niết-bàn vi diệu ngươi đă chứng . Chẳng phải là cảnh giới của hàng Thinh văn , Duyên giác . Đời sống ở thế gian như lửa rơm mau cháy , chóng tàn .  Vô số chúng sinh c̣n lẩn quẩn trong ṿng vô minh . Nay ta phú chúc cho người thay ta lưu lại thế gian tế độ chúng hữu t́nh ” . Savaripa vâng mệnh quay về quê cũ tiếp tục thiền định . Chờ đến khi Phật tương lai là Di-Lặc ra đời để cùng ngài giáo hóa chúng sinh trong một thời kỳ mới .

- - - - - - - - - - - - - - - -

Đại sư thứ 6

Saraha
Đại Bà-la-môn

Này hiền hữu, khắc ghi tâm trí
Tuyệt đối kia vốn có sẵn đây
Cớ sao quanh quẩn suốt ngày
T́m đâu cho thấy? Chỉ hoài công thôi!
Lời bí mật ở trên môi
Vị chân sư ấy, v́ sao không cầu?
Phép rốt ráo thật nhiệm mầu
Nhận ra chân lư, tử sinh sá ǵ!

Truyền thuyết

Saraha vốn là một nhà quí tộc thuộc giai cấp Bà-la-môn ở Roli , miền đông Ấn độ .  Bẩm sinh ngài đă có phép thần thông v́ vốn là một Daka . Là con của một vị Thánh nữ ( Dakini ) . Mặc dù được dạy dỗ theo khuôn phép của đạo Bà-la-môn nhưng ngài lại đi theo con đường Phật pháp . Ban ngày ngài học giáo pháp của đạo Bà-la-môn . Nhưng đêm đến ngài lại nghiên cứu Phật lư .

Tuy vậy , ngài vẫn là người hay uống rượu . Điều này vi phạm giáo luật của đạo Bà la môn . Nên họ kết tội và thỉnh cầu nhà vua tước bỏ địa vị của ngài . Bọn người Bà la môn tâu : “ Tâu đức vua anh minh ! . Ngài có trách nhiệm bảo vệ quốc giáo . Gă Saraha này , chúa của 15.000 hộ dân thành Roli lại báng bổ giáo luật . Hăy trừng phạt hắn để làm gương ” .

Vua phán : “ Trẫm không thể lưu đày một vị chúa của 15.000 hộ dân ” . Sau đó , vua đích thân đến viếng Saraha và khuyên ngài bỏ rượu . Saraha không thừa nhận nên tâu với vua : “ Thần không có uống rượu . Nếu bệ hạ ngờ vực . Xin mời dân chúng họp lại , thần sẽ chứng minh là ḿnh vô tội ” . Khi tất cả mọi người tề tựu đông đủ, Saraha tuyên bố : “ Ta vô tội . Nếu có tội th́ tay ta đây bị sẽ cháy bỏng ” .

Nói xong , Saraha liền nhúng cả cánh tay vào một vạc dầu đang sôi hừng hực . Nhưng tay vẫn không hề hấn ǵ . Thấy thế, nhà vua quay lại hỏi những người Bà la môn : “ Các ngươi c̣n cho rằng Saraha có tội hay không ? ” . Những người bà-la-môn chống chế : “ Chính ông ta có uống rượu ” . Lần này , Saraha bưng lấy một bát đồng sôi kê miệng uống ngon lành . Những người bà-la-môn lại gào lên : “ Chính chúng tôi chứng kiến ông ta uống rượu ” .

Saraha bèn thách thức bọn giáo sĩ : “ Bây giờ , ta và một trong các ngươi nhảy vào bồn nước . Kẻ nào ch́m là có tội ” . Một người trong bọn họ t́nh nguyện cùng Saraha nhảy vào bồn . Chính y bị ch́m xuống tận đáy . Ngay lập tức , Saraha tuyên bố : “ Ta vô tội nếu như lần này ta ch́m xuống . Ngươi nổi lên ” . Thế là Saraha lại ch́m xuống đáy nước c̣n người kia nổi lên mặt nước .

Chứng kiến cảnh Saraha hư lộng thần thông vua phán : “ Nếu Saraha pháp lực cao cường th́ cứ để cho ngài uống rượu ” . Lúc ấy , mọi người lấy làm ngưỡng mộ , tiến đến vái chào Saraha và xin ngài truyền pháp . Saraha ứng khẩu đọc ba bài kệ . Một cho vua , một cho hoàng hậu và một cho tất cả mọi người . Ít lâu sau, Saraha kết duyên cùng một thiếu nữ xinh đẹp ở độ tuổi trăng tṛn . Ngài cùng vợ rời quê nhà đi sang một xứ khác . Ngày ngày , Saraha tu tập thiền định . C̣n người vợ trẻ đi xin vật thực về để cúng dường cho chủ nhân của bà .

Một ngày nọ , Saraha ngỏ ư muốn ăn món cà-ri cải . Người vợ liền đi nấu món cà-ri này mang đến cho ngài . Khi bà mang món ăn đến th́ Saraha đang nhập định nên bà đặt bát cà-ri bên cạnh rồi lặng lẽ rút lui . Saraha nhập định suốt trong 12 năm . Khi vừa xuất định , ngài bèn lớn tiếng kêu vợ mang món cà-ri đến . “ Ngài nhập định suốt 12 năm . Bây giờ không phải là mùa cải lấy ǵ mà nấu ? ” . Saraha ngượng ngùng khi nghe vợ trách . Ngài định bỏ đi lên núi cao để tiếp tục hành thiền . 

Biết thế, người vợ liền khuyên : “ Núi cao , hang sâu đâu chắc đă thật là cảnh thanh tịnh . Sự thanh tịnh chân chính là từ bỏ kiến chấp của tâm hẹp ḥi . Ngài nhập định suốt 12 năm . Vậy mà vẫn c̣n bám lấy ư muốn ăn món cà-ri cải của 12 năm trước . Thế th́ lên núi cao hay vào hang sâu , phỏng có ích ǵ ? ” . Nghe vợ nói thế , Saraha chợt tỉnh ngộ . V́ vậy ngài không đi nữa mà ở lại đó tiếp tục tu tập.  Ngài quán xét “ Các pháp vốn thanh tịnh ” cho đến lúc hoàn toản liễu ngộ . 

Hành tŕ

Saraha đă vượt lên trên cả hai phạm trù đúngsai . Ngài chứng minh : “ Tất cả các hiện tượng chúng ta đang cảm nhận bằng giác quan đều là hư vọng ” . Điều ấy không ngụ ư không có chân lư , không có đúng, sai .  Tất cả dhỉ chứng tỏ định lực của một đạo sư . Có thể hoán chuyển và kiểm soát các nguyên tố cấu thành mọi hiện tượng trong vũ trụ ( Tứ đại ) .

----------------------------------------

Đại sư thứ 7

Kankaripa
Kẻ góa vợ

Ôi ! ;
Thiên nữ - Dakini của ḷng ta ,
Nàng dung mạo mỹ miều .
Mà chỉ có mắt thanh tịnh của ta ,
Mới đủ khả năng chiêm ngưỡng .
Tướng ấy không ĺa ta ,
Nhưng không phải thuộc về ta .
Các pháp hiện tượng của một vũ trụ rỗng không ,
Thiên nữ ơi ! Nàng chẳng có ǵ để sánh ,
V́ ta không đủ lời diễn tả .

Truyền thuyết

Một thưở nọ , tại Magaddha có một thanh niên thuộc giai cấp hạ tiện . Lớn lên , anh kết duyên cùng một thiếu nữ có nhan sắc mặn mà cùng tầng lớp xă hội . Anh tính t́nh chơn chất và không phải là hạng người thiếu đạo đức . Tuy nhiên , anh thường không quan tâm đến cuộc sống đức hạnh và những giá trị của tâm linh . V́ thế , sau khi trải qua lạc thú lứa đôi . Anh có cảm giác chỉ cuộc sống thực tại mới đem lại cho những lạc thú hoàn toàn . C̣n tất cả những điều khác chỉ là vô nghĩa .

Rủi thay , đến ngày định mệnh khắc nghiệt , người vợ trẻ lâm bạo bệnh và qua đời . Đau khổ đến mất cả lư trí , anh ta ôm chặt lấy thây ma . Không chịu buông rời nửa bước . Một nhà sư Du-già thấy anh ta trong t́nh trạng vô cùng tuyệt vọng và đau khổ ấy bèn dừng chân để hỏi duyên cớ .

“ Ngài không thấy tôi đang đau đớn như bị cưa xẻ đây sao ? . Nàng chết đi là một mất mát to lớn . Như thế đă kết thúc mọi niềm hạnh phúc, khoái lạc của đời tôi .  Quả thật không ai trên đời này đau khổ bằng tôi ” . Nhà sư khuyên : “ Tất cả cái ǵ sinh ra đều phải kết thúc bằng cái chết . Có sinh th́ có tử .  Có tụ th́ có tán . Gặp gỡ rồi phải chia ly . Trong cơi thế gian vô thường này , ai cũng phải trải qua những chặng đường đau khổ ấy . Đó là qui luật tự nhiên . Cớ sao ngươi lại vật vă ôm giữ cái thây ma . Khác nào ôm giữ một đống bùn ? . Cớ sao ngươi không tu tập để cho vơi bớt nỗi sầu khổ kia ? ” .

Nghe vị sư nói , anh ta choàng tỉnh cất tiếng nài nỉ : “ Xin ngài xót thương dạy cho tôi cách thoát khỏi nỗi đau khổ này ” . Vị sư hoan hỷ nhận lời khai thị cho anh . Kế đó , ngài dạy phương pháp thiền định để trừ tâm sầu năo và những ư nghĩ vẩn vơ về cái chết của người thương yêu . 

Ngài dạy cho anh ta cách quán tưởng h́nh ảnh vợ ḿnh như một Kim cương Thánh nữ ( Dakini ) . Biểu tượng thuộc Không tính và Tịnh lạc .  Đồng thời , ngài dạy : Quán các pháp vốn không có tự ngă . Sau 6 năm tu tập, khi thấy rơ các pháp đều do duyên sinh , Kankaripa hốt ngộ chân lư .

Hành tŕ

Hư không ( Space ) và Thanh tịnh quán ( Pure-awareness )là hai trong một .  Dakini vừa là sắc tướng của người nữ vừa là tướng của thanh tịnh thức . Vũ khúc Dakini là sự chuyển động của nguyên lư âm dương . Đó là sự vận hành của các pháp thế gian .

----------------------------------------

Đại sư thứ 8

Minapa
Con Người Xui Xẻo

Người ngư phủ bám chặt vào chiếc cần câu ,
Trôi dạt ra biển cả của số phận .
Sống sót trong bụng cá  ;
Tu tập phép Du-già .
Do thần Siva dạy cho Uma ,
Người ngư phủ ấy là Minapa .
Sau đó trở lại đất liền ;
Ngay cả đá cũng không chịu nổi bước chân của ngài .

Truyền thuyết

Minapa vốn làm nghề chài lưới ở vùng Bengal . Chân sư của ngài chính là đại phạm Thiên vương . Minapa thường ngày vẫn dong thuyền ra khơi đánh cá đem về bán để độ thân . Một hôm , Minapa vô t́nh dùng thịt làm mồi câu . Một con ḱnh ngư nổi lên đớp mồi làm đắm cả thuyền và nuốt trọn Minapa vào trong bụng . V́ số kiếp chưa hết nên Minapa tiếp tục sống trong bụng cá .

Trong khi ấy , Thánh nữ Umadevi là vợ của Đại phạm thiên ( Mahadeva ) ; cầu xin chồng truyền cho pháp thuật . Đại phạm thiên không muốn truyền pháp bí mật ở những nơi người khác có thể nghe lén . Bèn bảo Umadevi cùng đi xuống đáy biển sâu . Lúc bấy giờ , con thủy quái chứa Minapa trong bụng lại nằm nghỉ gần nơi Đại phạm thiên vương đang truyền pháp cho Umadevi . Vị nữ thần này ngủ gục trong khi Đại phạm thiên giảng pháp . Nên chính Minapa lại là người học được trọn vẹn pháp thuật của Thiên vương .

Đến khi Đại phạm thiên vương ngừng nói pháp . Umadevi tỉnh giấc, lại bảo : “ Ngài nói tiếp đi ” . “ Nhưng ta mới nói xong .  Vậy từ năy giờ ai đă đối đáp cùng ta ? ”  . Đại phạm thiên nói với vẻ ngạc nhiên . Ngài liền dùng thiên nhăn xem khắp , chợt thấy Minapa đang ở trong bụng con thủy quái nằm gần đó và nghĩ thầm : “ Chính người này mới thực sự là môn đồ của ta ” . Được cơ may hiếm có , Minapa thiền định suốt 12 năm trong bụng con thủy quái .

Về sau , ngư dân trong vùng bắt được con thủy quái mổ bụng v́ tưởng có châu báu .  Nhờ thế , Minapa thoát ra ngoài . Mọi người chứng kiến cảnh Minapa chui ra từ bụng cá đều kinh hăi . Ai cũng sửng sốt khi nghe tên vị vua dưới thời Minapa chưa bị nạn . Mới biết ngài ở trong bụng cá được 12 năm .

V́ vậy , họ gọi ngài là Thầy Cá và tất cả đều đảnh lễ cúng dường vật thực . Vui mừng về sự thành tựu ấy , Minapa nhảy nhót khiến chân ngài lún sâu vào mặt đất đá y như người ta cho chân xuống bùn . Tương truyền, ngài thọ đến 500 năm .

Hành tŕ

Con cá khổng lồ trong truyện là biểu trưng của đời sống tinh thần . Bị cá nuốt vào bụng không chết là do công đức đời trước của Minapa . Khác với những vị Du-già khác . Minapa không tự nguyện mà t́nh cờ một cách may mắn học được pháp . Sự may mắn sau cùng là  : Sau 12 năm thiền định dưới nước . Minapa được về lại đất liền . Ở đây , ư nói Minapa không bị tù  đày , trói buộc trong pháp môn tu tập mà vượt thoát ra ngoài . Không chấp vào pháp tu của ḿnh .

Đối với một hành giả Mật tông ( Tantrika ) cá tượng trưng cho sự giải thoát . V́ nó tự do bơi lội không cần phải nỗ lực , không cần ngủ nghỉ và không bị ướt ( Ái nhiễm tỉnh giác ) .

Sử liệu

Minapa c̣n gọi là Macchendra hay Mina . Ngài vốn là bậc Đệ nhất chân sư ( Adi Guri)  của giáo phái Sakta tức ḍng tu Yogini Kaula hay c̣n gọi là Siddhamarta . Kinh Kaulajrana Nimaya có ghi phần giáo pháp mà đại phạm thiên vương truyền cho Umadevi .

Cũng có tương truyền Minapa nhặt được kinh này ngoài biển . V́ con trai của thần Siva hoá chuột đánh cắp kinh sau đó ném ra biển . Cho nên mới có sự tích Minapa học được pháp thuật này ở Nepal . Người ta c̣n cho rằng chính Bồ Tát Quán Thế Ấm dạy cho thần Siva môn Du-già và Minapa vô t́nh học được khi thần Siva truyền lại pháp này cho Parvatte tức Umadevi .

Cũng có thuyết nói rằng khi nạn đói kém v́ thiên tai hạn hán xảy ra ở Nepal . Chỉ có Minapa mới đủ khả năng cầu đảo . Vua Narendradeva đă sai sứ giả đến t́m . Ngài Minapa nhận lời và bảo sứ giả về trước . Sau đó ngài hóa thân thành con ong nghệ xuất hiện bay quanh chỗ vua . Đức vua vừa đưa tay tóm bắt th́ trời đổ mưa .

Cảm động công đức ấy , vua cho vẽ chân dung của ngài để thờ phụng khắp nơi như một vị thần thủ hộ của xứ Nepal . Ngày nay, người ta c̣n thấy tại một trong những ngôi đền chính của thủ đô Kathmandu có tượng thờ ngài Minapa .

--------------------------------------

Đại sư thứ 9

Goraksa
Kẻ chăn ḅ bất tử

Cho dù sinh ra ở giai cấp nào ,
Ngươi cũng có cơ hội đi tới giải thoát rốt ráo .
Không có bất cứ chướng ngại nào ,
Có thể ngăn lối ngươi đi .
Ta ! Goraksa cũng chộp lấy cơ hội ấy ,
Ta gieo hạt giống giác ngộ .
Bằng cách phục vụ cho Caurangi một cách vô tư ,
Và Acinta đă ban cho ta những giọt rượu trường sinh .
Goraksa đă chứng đắc ,
Riêng ta đứng nơi đây ;
Uy nghiêm như một vị vua của ba cơi .

Truyền thuyết

Goraksa sinh ra trong một gia đ́nh tiểu thương dưới đời vua Devapala . Thuở thiếu niên , ông chăn trâu để giúp gia đ́nh . Một hôm theo lệ thường , Goraksa cùng lũ mục đồng nô đùa th́ đại sư Minapa đến chỗ bọn trẻ . Ngài nói : “ Này các cháu, các cháu có nh́n thấy lũ kên kên bay lượn quanh đây không ? . Gần đây có một hoàng tử gặp nạn . Ngài bị chặt ĺa chân tay và đang nằm chờ chết . Có cháu nào giúp ta đến cứu mạng hoàng tử không? ” . Nghe nhà sư nói , Goraksa đáp ngay : “ Cháu thấy ạ ! . Nhưng trong khi cháu đi cứu ông hoàng , xin ông giúp cháu trông chừng đàn trâu ” .

Thế là , Minapa canh bầy trâu c̣n Goraksa đi t́m ông hoàng tử gặp nạn . Theo hướng bay lượn của bầy kên kên , Goraksa t́m thấy một hoàng tử đang nằm ngất bên thân một cây to . Goraksa quay lại báo với nhà sư : “ Quả nhiên đúng như lời ông nói ” . Sư hỏi : “ Thế con đă làm ǵ ? ” . “ Thưa ông , con đă cho hoàng tử phân nửa phần thức ăn con mang theo ” .

“ Tốt lắm !  . Vậy con hăy chăm sóc hoàng tử cho đến khi ngài lành bệnh nhé ! ” . Nói xong , nhà sư từ biệt . Cậu bé vâng lời , đi chặt những cành lá to để dựng lều cỏ rồi vực hoàng tử vào bên trong . Ngày ngày Goraksa mang thức ăn đến cung phụng , lại c̣n tắm rửa cho ngài một cách chu đáo . Goraksa phục vụ và an ủi vị hoàng tử trong 12 năm . Bấy giờ , Goraksa đă trở thành một chàng thanh niên cao lớn .

Một ngày nọ , theo lệ thường, Goraksa đến chỗ ông hoàng . Cậu ngạc nhiên đến sững sờ khi thấy vị hoàng tử này đang đứng thẳng trên đôi chân . Trong giây lát , Goraksa hiểu rằng bấy lâu nay vị hoàng tử đă tu tập phép Du-già của sư Minapa truyền cho . Nay việc hành tŕ đă đem lại kết quả nên tứ chi của hoàng tử lành lại như cũ .

Kế đến , ông hoàng vận thần thông bay lượn giữa không trung và hỏi vọng xuống Goraksa : “ Ngươi có muốn học phép thiền định của ta không ? ” . Goraksa trả lời : “ Tôi không học với ngài . Tôi cũng có một chân sư.  Chính thầy tôi sai tôi chăm sóc, nuôi dưỡng ngài bấy lâu nay ” .

Nói xong , Goraksa quay đi chăn trâu và chờ sư Minapa đến . Chẳng bao lâu sư Minap lại xuất hiện . Goraksa thuật lại sự việc và sư lấy làm hài ḷng . Ngài điểm đạo cho chàng và truyền cho pháp thuật . Goraksa y pháp tu hành măi cho đến khi thấy có hiện tượng sở đắc . Ngài bèn đi t́m Minapa . Nhưng sư lại bảo Goraksa sẽ không thể đại triệt đại ngộ nếu ông không hóa độ được vô số chúng sinh thoát khỏi luân hồi .

Goraksa lại bắt đầu vân du khắp nơi để hoằng pháp độ sinh . Nhưng Đại phạm Thiên vương hiện ra khuyên rằng : “ Ngài chỉ nên truyền pháp cho những kẻ chí tâm cầu đạo . Chớ có trao pháp cho kẻ thiếu tín tâm và những kẻ ngu độn ” . Nghe vậy, Goraksa chỉ truyền pháp cho những ai có đủ các duyên và căn cơ khế hợp với giáo pháp của ngài .

Hành tŕ

Các hành giả Du-già thuộc giáo phái Nath tu tập môn Hatha-yoga . Đó là lối tu khổ hạnh . Họ t́m cách chặn đứng ư thức và nghiệp tạo ra từ sự hoạt động của tứ chi . Bằng cách tập trung mọi năng lực vào các luân xa ( Chakra ) hoặc vào cửu khiếu . Công phu lâu ngày , họ có thể bẻ gặp các khớp xương để xếp sát vào thân như bị chặt tay chân . Giống như con rùa rút vào trong cái mai .

-------------------------------------

Đại sư thứ 10

Caurangipa
Đứa trẻ lạc loài

Từ thuở hoang sơ từ khi chưa có sự bắt đầu ,
Những cái rễ của cây vô danh .
Được vun tưới bằng những cơn mưa ,
Của thói quen vọng tưởng .
Chúng lớn mạnh thành những nhánh vô minh ,
Hôm nay ta đốn cây vô minh ấy .
Bằng chiếc ŕu giáo pháp của chân sư ,
Bạn ơi ! ;
Hăy nghĩ suy và cân nhắc để tu tập .

Truyền thuyết

Caurangipa nguyên là hoàng tử con vua Devapala.  Khi ngài được 12 tuổi th́ hoàng hậu qua đời v́ một chứng bệnh nan y . Trước khi nhắm mắt ĺa đời , bà gọi ngài đến trối trăn : “ Này con , tất cả niềm vui hay nỗi buồn đều có căn nguyên. Mỗi mỗi đều lưu xuất từ các nghiệp thiện ác . Con hăy nhớ lời mẹ dạy , dù phải gặp nguy nan . Con chớ làm những điều xấu ác ” . Nói xong bà trút hơi thở cuối cùng .

Sau lễ an táng hoàng hậu , triều đ́nh thúc dục vua lập hoàng hậu khác theo tục lệ bà-la-môn .  Nhà vua vẫn c̣n thương tiếc người vợ yêu . Nên chỉ ít hôm sau ngày tái giá đức vua đi vào rừng sâu để xua đuổi nỗi buồn trong ḷng .

Một ngày kia , sau khi vua rời hoàng cung . Hoàng hậu mới trèo lên mái cung điện để ngắm cảnh . Trong tầm mắt bà hiện ra h́nh bóng của một thanh niên khôi ngô tuấn tú . Đó là hoàng tử Caurangipa . Bà hoàng lập tức say mê h́nh ảnh người con trai của chồng và lệnh cho hoàng tử vào hầu . Nhưng ngài từ chối . Điều này khiến bà tức giận điên cuồng bèn nghĩ đến chuyện trả thù : “ Hắn đă khinh thường ta . Hắn là kẻ thù của ta .  Ta cần phải loại trừ hắn ” .

Bà liền ra lệnh cho lính canh ám sát hoàng tử . Họ không đồng t́nh với bà : “ Tâu lệnh bà ! . Hoàng tử không đáng tội chết . Ngài vô tư như trẻ con . Chúng tôi không thể ra tay sát hại trẻ con ” . V́ vậy , bà nghĩ ra một mưu kế . Đến khi đức vua trở lại cung điện . Ngài bắt gặp vợ ḿnh áo quần tơi tả và thân thể đầy vết cào xước . Vua kêu lên : “ Chuyện ǵ đă xảy ra với nàng ? ” . Hoàng hậu khóc lóc : “ Hoàng tử đă lợi dụng lúc đại vương đi vắng để làm nhục thiếp ” . Đức vua nổi cơn thịnh nộ lôi đ́nh : “ Nếu vậy , nó phải chết để đền tội ” . Vua lập tức ra lệnh cho thị vệ mang hoàng tử vào rừng chặt bỏ tay chân để trừng phạt .

Nhưng những người thị vệ ấy vốn kính trọng và thương yêu hoàng tử bèn nghĩ cách cứu chàng . 

Họ quyết định hy sinh một trong những đứa con của họ.  Nhưng khi họ đề nghị cách này với hoàng tử th́ ngài quyết liệt từ chối : “ Không thể như thế được . Ta đă hứa với mẫu hậu dù nguy biến đến đâu cũng không làm điều xấu ác . Các ngươi phải thi hành mệnh lệnh của phụ vương” . Thấy chàng quá cương quyết , họ buộc ḷng mang chàng vào rừng chặt bỏ tay chân đem về tŕnh đức vua .

Ngay lúc ấy sư Minapa xuất hiện hỏi han .  Hoàng tử đem nỗi oan t́nh kể cho nhà sư nghe . Ngài thương xót chàng nên truyền cho phương pháp thở bụng . ( Pot-bellied breathing ) . Sư nói : “ Nếu con cố gắng tu luyện . Không bao lâu tay chân của con sẽ trở lại đầy đủ ” . Kế đó , nhà sư đến chỗ bọn trẻ chăn trâu nhờ chúng chăm sóc hoàng tử ( Một đứa trong bọn trẻ ấy là sư Goraksa trong truyện trước ) . Y theo pháp  hoàng tử tu tập thiền định suốt 12 năm

Vào một đêm tối , có đám thương nhân đi gần đến chỗ hoàng tử trú ngụ . Để tránh sự ḍm ngó của kẻ cướp . Họ mang vàng bạc châu báu chôn giấu trong rừng rồi mới ngủ nghỉ . T́nh cờ đi ngang qua chỗ của hoàng tử . Chàng nghe tiếng chân đi bèn lên tiếng hỏi : “ Ai vậy ? ” . Bọn thương nhân nghe tiếng kêu lớn , ngại gặp phải kẻ cướp bèn đồng thanh trả lời : “ Vâng ! . Chúng tôi là dân làm than đi đốn củi ” . Hoàng tử  nói  : “ Than à ! ” . Bọn thương nhân quay lại chỗ nghỉ . Nhưng đến khi đào lấy của cải cất giấu dưới đất thấy tất cả chỉ toàn là than và than .

Cả bọn kinh sợ, hỏi nhau : “ Cớ sao lại thế này ? ” . Một người có vẻ thông thái nhất trong bọn đoán rằng : “ Khi năy có người kêu hỏi bọn ta . Chắc chắn đó là bậc thánh nên mỗi lời nói ra đều có khả năng biến thành hiện thực . Tốt nhất , chúng ta nên đến chỗ ấy xem thử ” . Họ ḍ dẫm từng bước chân trong đêm tối dưới ngọn đuốc bập bùng để đến chỗ hoàng tử . Khi đến nơi , họ nh́n thấy một thân người không có tay chân đang tựa vào một gốc cây to.  Bọn họ kể cho hoàng tử nghe chuyện lạ và khẩn cầu ngài thu lại pháp thuật . 

Caurangipa bảo với họ : “ Ta thực không biết điều ấy . Nếu quả thực như thế xin than trở lại thành vàng bạc như cũ ” . Bọn thương nhân quay về lại thấy vàng bạc như cũ họ vui mừng nhảy nhót . Sau đó , cả bọn quay lại cúng dường cho Caurangipa và tôn thờ ngài như một bậc thánh . Qua sự kiện này , Caurangipa nhớ lại lời thầy . Ngài chú nguyện cho tay chân lành lại như cũ . Lập tức điều lạ xảy ra và buổi sáng hôm sau Goraksa chứng kiến sự b́nh phục của ngài .

Sau khi đắc pháp ngài nói : “ Nếu đất là mẹ của muôn loài thảo mộc th́ hư không là chất làm nên tứ chi ta ” . Đoạn ngài bay lượn giữa hư không . Tương truyền rằng đại sư Caurangipa là một nhà sư khó tính và không hề truyền pháp cho ai . Và người ta nói rằng cây đại thụ chứng kiến sự tu hành giác ngộ của ngài vẫn c̣n sống đến hôm nay .

Hành tŕ

Hư không và vũ trụ là hai-trong-một . Đó là một trong những khía cạnh của Pháp thân ( Dharmakaya ) thuật ngữ để chỉ Trí vô phân biệt . Dharmakaya c̣n là Sự hợp nhất giữa vũ trụ và ánh sáng tâm linh. Bằng pháp thở bụng, Caurangipa đột nhiên nếm được vị chung của các pháp .  Đó là không-giải thoát . Ngài đă thể nhập vào cảnh giới Hư vô không tịch bằng chính Pháp thân thanh tịnh .

Một đạo sư Mật tông có khả năng biến hóa h́nh tướng của đối tượng mà ngài thâm nhập . Phép tu căn bản ấy của Caurangipa là quán một thân người với đầy đủ tứ chi và thân biến hóa của Caurangipa chính là Pháp thân . Thân ấy không thể hư hoại . V́ đó là tướng của Trí huệ thanh tịnh thức . Tướng này ( Pháp thân ) bất khả ly với các tướng từ tâm của hành giả . Sắc thân ấy h́nh thành bằng ư tâm hay niệm tưởng ( Mental concept ) . Cảnh giới bên ngoài chỉ là ảnh chiếu của tâm . Hư không dung chứa tất cả các pháp . V́ vậy một khi tâm tương ứng với hư không th́ các pháp chịu sự chi phối của tâm hành giả .

Ấm thanh và độ rung là phần chung của Tưởng và Sắc . V́ vậy , chơn ngôn là âm thanh vi diệu rốt ráo tạo nên không gian ba chiều . Một hành giả Du-già chứng đắc không thể nói dối . V́ ngay một niệm mống khởi trong tâm của ngài đều tự nhiên biến thành hiện thực . Nói rơ hơn , thế giới này được tạo nên bởi vọng tưởng của tất cả chúng sinh . Và trí lực của một hành giả tu chứng có khả năng biến đổi một phần trong tổng thể vọng tưởng ấy . V́ lư do đó chư Phật và Bồ Tát phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh .

Trở về đầu trang

 

Tiếp Chân Sư 11-20

 
 

Webmaster@maytrang.org