Pháp Chân Thật - Kim Cang Thừa


GAMPOPA

OSHO

Trungpa

NAROPA

Mahamudra

Kalachakra

Kalachakra II

GiáoLư DaKini

Giáo Lư Bardo

Bồ Tát Hạnh

Tâm Ánh Sáng

TánhGiácLộToànThân

Trí Huệ ThẩmThấu

Con Mắt Băo

Sùng Kính Thầy

Các Vị Chân Sư 

Phô Diễn Tự Tánh

Nh́n Bạn Như Là

Bài Học Yêu Thương

ChuKỳ Ngày-Đêm

Mỗi Ngày

Nói Về Tỉnh Thức

Nỗi Sợ Hăi Căn Để

Những Chữ Vàng

Thực Hành Thế Nào

Tâm Vượt Khỏi
Tử Thần

Thượng Đế
Tại Đây

Giải Thoát
Tự
Nhiên

PHẬT TÂM

Hoang Sơ
Bừng Tỉnh

Dhammapada

Trung Đạo

Nhẹ Nhàng Hướng Về Sự Tỉnh Thức

Những PhụNữ
Trí Huệ

Một Phút Hài Hước

Một Phút Minh Triết

Tử Thư Tây Tạng

Đại Tâm Thức Nghĩ Ngơi

Lối vào Thực Tại

Con Đường TỉnhThức

Chod Mahamudra

Kho Tàng Tâm

Như Một Chúc Thư

Viên Ngọc Như Ư

Luyện Tâm 7 Điểm

Đại Toàn Thiện

Những lời Khai Thị

Lời chân Lư

m Trượng Phu

Sự Tỉnh Thức

Như Một Giấc Mộng

Như Trời - Như Biển

Con Đường Tỉnh Lặng

 Góp Nhặt

Ḷng Bi Bao La

Nghi thức

MOTHER THÉRÉSA

HERUKA VAJRASATTVA

Kim Cang Giới

KỳNguyệnHươngLinh

Cây Giác Ngộ *

Thực Hành
PHẬT PHÁP

 Thơ Văn Mây Trắng

PHẬT GIÁO *

Truyện Ngắn Trên Mạng *

Mục Tham Khảo


Mục Tản Mạn *


Link Liên kết
Thai Cực Quyền


Ḥm Thư Lưu Trữ


Dấu * chỉ đề tài mới & đang

 

 
  Padmasham  
 

The Cycle of Day and Night
Namkhai Norbu

Station Hill Press 1987

Chu Kỳ
Sống Trong Tham Thiền
Ngày và đêm

 
 
 

 
 

 
 
 

Giới Thiệu

Bản văn “ gDod-ma’I  rnal-‘byor gyi lam khyer nyin mtshan ‘khor-lo-m ” hay “ Chu Kỳ Sống Trong Tham Thiền Ngày Và Đêm - Nơi Con Người Tiến Bộ Theo Con Đường Yoga Bổn Nguyên ” của Namkhai Norbu Rinpoche . Nhưng không phải giới thiệu tính học thuật về Dzogchen . Cũng không phải luận văn về triết học của Dzogchen hay nghiên cứu về văn học rộng lớn của Dzogchen ở Tây Tạng . Đúng hơn chính là Upadesa (1) - Giáo lư về những điểm cốt lơi của thực hành Dzogchen . Bản văn này giải thích bằng sự chính xác lớn , chi tiết và rất ngắn gọn về vấn đề : Làm thế nào có thể sống trong sự thực hành tham thiền liên tục suốt ngày và đêm . 

Theo truyền thống , Upadesa là giáo huấn miệng bí mật nói riêng bởi thầy cho những học tṛ đă cam kết thệ nguyện với con đường chứng ngộ . Upadesa được rút từ kinh nghiệm cá nhân của vị thầy đă thành tựu và đă tự ḿnh đạt được mức độ dứt khoát của chứng ngộ trong thực hành . Trong đó ngài đề cập một số điểm cốt lơi lư thuyết lẫn thực hành trực tiếp . Liên hệ đến sự thực hành và kinh nghiệm của thiền giả .

Namkhai Norbu Rinpoche là một vị thầy thành tựu như vậy . Sinh ra trong gia đ́nh quư tộc ở Derge miền đông Tây Tạng . Ngài đă nhận sự giáo dục kinh viện tinh tế nhất . Cụ thể là của phái Sakya của Phật giáo Tây Tạng (2)  . Hơn nữa ngài sớm được công nhận là một Lama tái hiện thân hay Tulku . Chính là Tulku của Adzom Dugpa ( 1842-1924 ) . Vị thầy thuộc hàng nổi tiếng nhất của đại Toàn Thiện ở đông Tây Tạng vào lúc giao thời của hai thế kỷ . 

Về sau ngài được Gyawa Karmapa XVI và Palpung Tai Situ Rinpoche công nhận là tái hiện thân của Dugpa Pema Karpo danh tiếng ( 1527-1592 ) . Vị thầy và học giả đứng đầu phái Dugpa Kagyud của Phật giáo Tây Tạng . Nhưng tinh túy của đại Toàn Thiện không t́m thấy trong sự học kinh viện cũng không đ̣i hỏi cấp bậc giáo phẩm . V́ Đại Toàn Thiện siêu vượt khỏi mọi giới hạn trí thức và văn hóa . 

Đến khi ngài gặp Guru gốc ( rtsa-ba’i  bla-ma ) (3) . Ngài mới hiểu được đại Toàn Thiện có nghĩa ǵ theo kinh nghiệm trực tiếp và chứng ngộ cá nhân . Vị thầy này là Nyala Chang-chub Dorje ( 1826-1978 ) , một Lama và y sĩ phái Nyingma cũng là vị lănh đạo tinh thần của cộng đồng : Những hành giả cư sĩ trong thung lũng hẻo lánh ở miền đông Derge . Từ thầy , ngài đă nhận những trao truyền quan trọng nhất của ba bộ Semde , Longde và Mangagide .

Chính từ kinh nghiệm cá nhân và chứng ngộ Đại Toàn Thiện ; bản văn này đă viết ra .  Nhưng cũng có sự ḥa trộn giữa truyền thống và kinh nghiệm cá nhân của vị thầy .   Trong bộ Longde của giáo lư Đại Toàn Thiện cũng t́m thấy giáo lư : Làm thế nào thực hành tham thiền liên tục cả ngày và đêm . Đặc biệt , Byang chub sems bcos thabs mdor bsdus  của Garab Dorje . Theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng là vị thầy của loài người đầu tiên của đại Toàn Thiện trên hành tinh .

Chính bản văn của Namkhai Norbu Rinpoche chính là toát yếu về những thực hành . Nói chung , dù bây giờ Đại Toàn Thiện được xem là thuộc về Phật giáo ở Tây Tạng . Nhưng vẫn chưa được biết nhiều ở Tây phương . Cho nên , cần nói một số điều liên quan đến vị trí và nguồn gốc trong Phật giáo Tây Tạng .

Theo truyền thống Tây tạng , Đại Toàn Thiện được xem là giáo lư cao nhất và là tinh túy của đức Phật . Thường được liên kết với Nyingma - Phái cổ nhất của Phật giáo Tây Tạng , cho dù bản thân đại Toàn Thiện vượt khỏi bất kỳ những giới hạn phân phái nào .  Hơn nữa , việc đưa đại Toàn Thiện vào Tây Tạng có trước sự sinh khởi những phái trong Phật giáo Tây Tạng . Những phái này chỉ hiện diện từ khi có sự đổi mới trong hoạt động dịch thuật từ tiếng Sanskrit sang tiếng Tây Tạng vào thế kỷ XI . 

Tuy Đại Toàn Thiện thường được gắn kết với Nyingma ; do vai tṛ phái này như người chăm sóc những truyền thống thoát thai từ thời kỳ Cựu Dịch ( thế kỷ 7-9 ) . Thật ra Đại Toàn Thiện không phải là một phái triết học . Nói đúng hơn , nó là con đường đưa đến chứng ngộ trạng thái bổn nhiên vượt khỏi hiện hữu theo điều kiện . Như vậy , không bị giới hạn bởi bất kỳ bối cảnh văn hóa hay lịch sử đặc thù nào .

Từ Tây tạng Dzogchen ( rdzogs-pa chen-po ) tương đương với từ Sanskrit – Mahasandhi . Thường được dịch là “ Đại Toàn Thiện . Giáo lư được gọi là Đại Toàn Thiện . V́ tự thân nó đă tṛn vẹn và hoàn thiện ( rdzogpa ) . Không ǵ thiếu trong nó . Và v́ là đại ( chenpo ) . Có nghĩa không ǵ lớn hơn hay vượt lên nó . Căn bản danh từ Dzogchen không ám chỉ đến bất cứ một lời dạy triết học giữa những lời dạy triết học khác . V́ tự bản chất nó nói đến : Trạng thái bổn nhiên của cá nhân - Phật tánh vốn có sẵn đồng nghĩa với bản tánh của tâm . 

Trong những Tantra Dzogchen . Đặc biệt là những Tantra của bộ Semde - Trạng thái bổn nguyên được biết là Bồ đề Tâm . Trong ngữ cảnh này , Bồ đề tâm có nghĩa khác với trong hệ thống kinh Đại thừa . Trong kinh Đại thừa , Bồ đề tâm là ư định quyết tâm của Bồ tát đạt đến Giác ngộ tối thượng Phật . V́ lợi lạc và giải thoát tất cả chúng sinh khỏi sinh tử . Dẫn đến chu kỳ không có chỗ bắt đầu của chết và tái sinh . 

Nhưng trong những Tantra Dzogchen , Bồ đề tâm có một nghĩa rất đặc biệt . Thuật ngữ Bồ đề tâm chuyển dịch sang Tây Tạng ( byang-chub sems) . Theo Dzogchen giải thích rằng : Byang“ Thanh tịnh ” từ lúc bắt đầu sơ thủy nhất ( ka-dag ) ; Chub là  “ Toàn thiện ” . Có nghĩa : Tự Toàn Thiện một cách tự nhiên ( Lhun-grub ) . “ Sems là “ Tâm ” có nghĩa : Năng lực không ngăn ngại của ḷng bi . Sự thanh tịnh bổn nguyên ( Ka-dag ) và Toàn thiện ( Lhun-grub ) là : Hai phương diện trạng thái bổn nguyên của cá nhân . Trong bản tánh tâm . Chúng hợp nhất không thể phân chia ( dbyer-med ) . Sau đây là những phương diện của trạng thái bổn nguyên có thể lập thành bảng theo hàm ư riêng :

Tinh túy            Tánh không                Thanh tịnh bổn nguyên           Pháp thân

( ngo-bo )      ( stong-pa nyid )                    ( ka-dag )                       ( chos-sku )

 

Bản tánh        Sáng tỏ quang minh         Toàn thiện tự nhiên               Báo thân

  ( rang-bzhin )            ( gsal-ba )                       ( lhun-grub )                 ( long-sku )

 

Năng lực         Sự không ngăn ngại     Hợp nhất bất khả phân             Hóa thân

( thugs-rje )            ( ma’gag-pa )                  ( dbyer-med )                 ( sprul-sku ) 

Trạng thái bổn nguyên là nhất thể . Nhưng để nói về nó và sự biểu lộ của nó . Chúng ta có thể phân biệt ba phương diện :

1-
Tinh Túy của tâm là :

Thanh tịnh bổn nguyên và tánh Không là :
Pháp thân .

2--
Bản Tánh của tâm là :

Sáng tỏ quang minh , tự-toàn thiện là :
Báo thân .

3-
Năng Lực của tâm là :

Không ngăn ngại , thấm khắp là :
Hóa thân .

Thế nên ,
Trạng thái bổn nguyên là :
Bản tánh của tâm biểu lộ như Tinh Túy ,
Bản Tánh và Năng Lực như :
Mọi con đường tâm linh có thể được phân tích theo :
Nền tảng ( gzhi ) , Con đường ( lam ) và Quả ( ‘bras-bu )  .

Trong trường hợp thừa Nhân hay Hetuyana tức hệ thống kinh điển Đại thừa . Nền tảng là Phật tánh vốn sẵn của chúng ta . Con đường là tập trung vào sự thực hành : Sáu ba la mật : bố thí , tŕ giới , nhẫn nhục , tinh tấn , thiền định và trí huệ của Bồ tát trải qua ba vô số chu kỳ thời gian . Quả là đạt đến Ba Thân . Ba chiều hiện hữu của Phật (4) .

Nói đến thừa Nhân . V́ nguyên nhân chính là Phật tánh vốn sẵn của chúng ta . Nhưng Phật tánh chỉ là cái ǵ đó giống như tiềm năng . Như hạt giống của cây lớn nằm trong ḷng đất . Cần phải có nhiều điều kiện phụ như : Thời tiết , mưa . . . mới có thể làm nảy mầm , trưởng thành , đơm hoa kết trái và chín mùi . Như vậy , cần phải tích tập công đức và trí huệ để đưa Phật tánh vốn sẵn chín thành quả như là biểu lộ của Ba Thân .

Tuy nhiên , quan kiến Dzogchen hoàn toàn khác . Ba Thân đă biểu lộ trọn vẹn như bản tánh của tâm từ sơ thủy . Cho dù không được nhận biết do những lớp che chướng của xúc t́nh và tri thức được tích tập . Giống như mặt trời có thể bị che ám bởi những đám mây . Tuy không thể thấy , nhưng mặt trời vẫn luôn luôn có mặt trong bầu trời . V́ thế khi những đám mây đă tan . Mặt trời sẽ rơ ràng và thấy được . 

Phật quả cũng vậy và lúc nào cũng ở trong mọi thời gian ; cho dù không hề nhận biết .  Tuy không được nhận biết , ba Thân vẫn sẵn từ vô thủy và biểu lộ trọn vẹn như Tinh Túy, Bản Tánh Và Năng Lực Của Tâm .  Như thế , có thể nói rằng : Nền tảng là Ba Thân . Con đường là Ba Thân và Quả là Ba Thân . cũng có nghĩa : Dzogchen tiêu biểu cho thừa Quả hay Phalayana ; có nghĩa là kết quả đă hiện diện sẵn như nguyên nhân .

Trong Dzogchen , phân biệt rơ ràng và  là cốt yếu giữa bản tánh của tâm ( Sems nyid ) và tâm ( Sems ) . Tức là những tiến tŕnh tư tưởng của chúng ta . Một ḍng chảy không ngừng của những tư tưởng lan man ( rnam-rtog ) liên tục sinh khởi . V́ thế cần hiểu rơ sự khác biệt này nếu muốn hiểu được Dzogchen . 

Trong truyền thống có một thí dụ ;
giúp chúng ta hiểu được điều này :

Bản tánh của tâm giống như tấm gương được lau sạch . Trong khi những tư tưởng , xúc cảm , kích thích , cảm nhận , cảm giác . . . của cá nhân sinh khởi như sự phản chiếu trong tấm gương . Chữ rig-pa  của Tây Tạng có thể dịch là : Tỉnh giác nội tại , tánh giác hay sự hiện diện thanh tịnh . Tương tự khả năng phản chiếu bất cứ cái ǵ được đặt trước nó cho dù đẹp hay xấu . 

Đối nghịch với rig-pa - “ Tỉnh Giác hay hiện diện ”  là : ma rig-pa - “ Vô minh ” hay không có sự tỉnh giác . Khi hoàn toàn hiện diện và tỉnh giác . Có thể nói , chúng ta sống trong trạng thái của tấm gương . Khi sống trong Vô minh , có nghĩa chỉ sống trong t́nh trạng của sự phản chiếu và cho rằng : Bất cứ cái ǵ xuất hiện trước chúng ta là có bản chất và là thật . 

Với tính giác nội tại , chúng ta hiện hữu trong t́nh trạng của Phật quả . Trong khi Vô minh chúng ta đi vào ṿng sinh tử . Khi nói đến trạng thái bổn nguyên ( Ye gzhi ) là : bản tánh của tâm ( sems nyid ) trong trạng thái hiện hữu như nó là ( ji  bhzin nyid ) . Vượt khỏi thời gian và sự hiện hữu có điều kiện . V́ Phật quả vốn đă chứng ngộ và biểu lộ hoàn toàn từ sơ thủy như bản tánh của tâm . Cho dù cho không được biết đến .

Công việc của Guru hay vị thầy ( Bla-ma ) là : Giới thiệu , dẫn nhập ( Ngo-sprod ) chúng ta vào bản tánh của tâm . Vào khả năng hiện diện và tỉnh giác ( Rig-pa ) .  Đi vào trạng thái tỉnh giác nội tại . Có nghĩa đi vào sự tham thiền nhập định ( ting-nge  ‘dzin,  skt .  Samadhi ) . 

Chú thích :

Dịch giả tiếng Việt xin chú thích thêm rằng : Chữ “ Tham thiền ” ( Comtemplation ) dịch trong suốt cuốn sách này có nghĩa : Tham thiền nhập định , ở trong định , ở trong chánh định , ở trong bản tánh hay ở trong sự hiện diện thanh tịnh . . . )  .

Tham thiền nhập định phải được phân biệt rơ với sự thiền định ( sgom-pa ) . V́ tỉnh giác nội tại vượt khỏi và ngoài hiện hữu có điều kiện và tiến tŕnh thời gian . Vượt khỏi tâm  . Trong khi sự thiền định chỉ bao hàm sự làm việc của tâm . Bởi thế , thiền định th́ có điều kiện và chỉ gói gọn trong thời gian quy định . 

V́ thế , vị thầy trước hết giới thiệu bằng cách : Cho chúng ta trăi nghiệm trực tiếp cái ǵ là tâm và cái ǵ là bản tánh của tâm . Có rất nhiều phương pháp để giúp chúng ta thấu hiểu và phân biệt một cách cụ thể . Và chúng  được biết như là : Khorde Rushan - Phân biệt giữa Sinh tử và Niết bàn .  Sinh tử là tâm ( Sems )Niết bàn là : Bản tánh của tâm ( Sems nyid ) . 

Các Rushan tạo thành Ngondro hay những thực hành sơ bộ cho Dzogchen . Và những ǵ học tṛ phương Tây thường biết là Ngondro . Nhưng không phải là Dzogchen . Tất cả những ǵ họ hiểu chỉ là sự thực hành sơ bộ của Tantra . Con đường chuyển hóa . Tuy nhiên , tất cả những thực hành kinh điển và Tantra . Vẫn có thể được dùng một cách lợi lạc bởi Dzogchen . Sự tuyệt đối thiết yếu của Guru Yoga đối với Dzogchen cũng như những thực hành tâm linh khác . Đều phải nương dựa vào sự trao truyền và Guru Yoga chính là phương cách chính yếu cho sự duy tŕ mọi trao truyền sẽ nhận được .

Những nguồn sớm nhất của những lời dạy Dzogchen là những bản văn được biết như những Tantra của Dzogchen . Nguyên được viết bằng ngôn ngữ của xứ Uddiyana , Tây bắc Ấn độ (5) . Nói chung , những lời dạy của Phật được t́m thấy trong hai loại thuyết pháp là Kinh và Tantra . 

Tất cả những lời dạy được những Lama Tây Tạng xem là Buddhavacana - Lời đích thật của đức Phật . Phật đă dạy nhiều loại giáo thuyết và thực hành khác nhau . Không phải v́ không nhất quán hay không rơ biết  chân lư . Nhưng v́ do khả năng thấu hiểu của người nghe nằm trong tŕnh độ khác nhau . 

Thế nên , do ḷng đại bi và phương tiện thiện xảo . Ngài dạy từng đệ tử theo mức độ thông hiểu của chính họ để có thể thụ nhận và thực hành dễ dàng . Tất cả những lời dạy được xếp loại thành ba thừa đi đến giác ngộ là : Tiểu thừa , Đại thừa và Kim Cương thừa . Chỉ riêng phái Nyingma chi tiết hơn xếp thành chín thừa ( Theg-pa  rim  dgu ) .

Thừa thứ 1 :
Thừa Thanh Văn .
“ Những đệ tử nghe Pháp ” . 

Chủ yếu con đường này được chỉ dạy trong lần thuyết pháp thứ I ở Vườn Nai , Sanarth gần Varanasi . Được biết như : “ Lần Chuyển Bánh Xe Pháp Thứ Nhất ” .  Trong lần thuyết pháp này , ngài tŕnh bày Bốn Chân Lư Cao Cả ( Tứ Diệu Đế ) Con đường Cao Cả Tám Ngành ( Bát Chánh Đạo ) .  Những lời dạy này đă được phân tích triệt để trong kinh điển Tiểu thừa . 

Thừa thứ 2 :
Thừa Độc Giác .
“ Những vị Phật im lặng ;
Hay những vị chứng đắc trong hoang vắng ” . 

Thanh Văn là : “ Người nghe ” . V́ các vị chỉ thích nghe những giáo huấn truyền khẩu của đức Phật để t́m thấy con đường đúng . Trong khi Độc Giác Phật tự ḿnh t́m thấy con đường và sống trong sự thực hành thiền định đơn độc ở nơi hoang dă . Hoàn toàn né tránh không chịu liên lạc hay tiếp xúc với con người . V́ lư do này , được ví như con tê giác . Loài thú có những thói quen cô độc và đối nghịch với xă hội . 

Hai thừa này được gọi chung là : Tiểu thừa hay thừa nhỏ để đến giác ngộ . Sở dĩ được gọi như vậy v́ mục đích là giải thoát chỉ riêng cho cá nhân hành giả . Tuyệt đối không quan tâm đến những người khác .

Phương pháp chính được dùng là : Con đường từ bỏ ( Spong lam ) . Nền tảng Tiểu thừa là : Ghê sợ thế gian . Con đường là : Tu tập ba phần : Giới , định và Huệ . Quả là : Giải thoát cá nhân khỏi sinh tử để trở thành A La Hán ( Trường hợp Thanh Văn hay Độc Giác Phật ) .

Thừa thứ 3 :
Thừa Bồ Tát .

Bồ Tát là người đang trên đường trở thành một vị Phật hoàn toàn giác ngộ . Như vậy , Bồ tát vượt qua mục tiêu của A La Hán . Người trở thành Bồ tát nhờ phát sinh Bồ đề tâm - “ Ư nghĩ giác ngộ ” ,  hay ư định cương quyết đạt giác ngộ tối thượng . Không v́ lợi lạc riêng ḿnh , mà v́ muốn  cứu giúp và giải thoát tất cả chúng sinh khỏi sinh tử . 

Con đường này gọi là Đại thừa . V́ mục tiêu lớn hơn - Một cứu thoát có tính tổng thể dành cho tất cả chúng sinh thoát khỏi sinh tử . Không chỉ dành riêng cho ḿnh . Những lời dạy này được t́m thấy trong kinh Đại thừa . Chứa đựng những bài thuyết pháp của đức Phật tại đỉnh Chim Kên Kên gần Rajgir và các nơi khác . . . 

Những thuyết pháp này tiêu biểu cho lần Chuyển Bánh Xe Pháp thứ II và III . Lần này đức  Phật tŕnh bày lên sự thật theo thứ tự về : Sự Hoàn Thiện Của Trí huệ ( Bát Nhă Ba La Mật )  và Duy Tâm ( Cittamatra ) . Từ hai bộ những thuyết pháp này , về sau phát triển thành Madhyamaka ( Trung đạo ) và Yogacara ( Duy Thức ) . 

Phương pháp chính được dùng là : Con đường Tịnh hóa ( Sbyong lam ) . Nền tảng Đại Thừa là : Phật tánh vốn sẵn . Con đường là : Thực hành sáu Ba la mật , nhờ đó tích tập công đức và trí huệ . Quả là : Chứng đắc Phật quả . Những lời dạy của Tiểu thừa và Đại Thừa bao gồm trong hệ thống kinh điển được đức Phật lịch sử - Thích Ca Mâu Ni phát lộ . V́ ngài là phương diện Hóa thân của Phật quả .

Những Tantra ngoại hay thấp hơn bao gồm ba thừa tiếp theo trong biểu đồ sắp xếp .  Những phương pháp dùng trong Tantra ; thường sử dụng những nghi thức và những tịnh hóa tỉ mỉ .  Phương thức chính yếu giống như trong trường hợp những Kinh đại thừa là : Con đường tịnh hóa . Và trong chừng mực nào đó đối với Yoga Tantra lại là : Con đường chuyển hóa . 

Thừa thứ 4
Kryya Tantra .

Sự thực hành chủ yếu thuộc về bên ngoài . V́ thế , đ̣i hỏi một số hoạt động về nghi thức thật đáng kể . V́ Krya là Hành động . 

Thừa thứ 5 :
Carya Tantra .

Thực hành một phần bên ngoài và một phần bên trong . V́ thế có rất nhiều luật dành cho hạnh kiểm . V́ Carya là Hạnh kiểm .  Trong Tantra Kriya và Carya ; phương cách đạt được Phật quả giống như trong những kinh điển Đại thừa

Thừa thứ 6 :
Yoga Tantra .

Sự thực hành hầu hết thuộc về bên trong . Có nghĩa sử dụng kỹ thuật mô phỏng hơn thực hành nghi thức . Như thế , nương nhờ vào sự nối kết ( Yoga ) hành giả với bổn tôn kinh qua trải nghiệm thiền định . Những giáo lư trong những Tantra là do Vajrasattva phát lộ . V́ ngài là phương diện Báo thân siêu lịch sử của Phật quả . 

Những giáo lư của những Tantra ngoại và nội là Kim Cương thừa dùng để đi đến sự giác ngộ . Ba thừa cao nhất của hệ thống Tantra bên trong bao gồm những Tantra : Mahayoga , Anuyoga và Atiyoga . 

Thừa thứ 7 :
Mahayoga .

Phân thành hai phần : Tantra và Sadhana . Thường sử dụng sự mô phỏng tỉ mỉ về Bổn tôn và Mandala ; và nhấn mạnh ở tiến tŕnh Phát Sinh ( Bskyed-rim ) hay Giai đoạn sáng tạo . Đây là tiến tŕnh chuyển hóa tiệm tiến trong kỹ thuật mô phỏng Bổn tôn và Mandala . Đuợc sáng tạo hay phát sinh trong những giai đoạn kế tiếp . Phương pháp của Tantra cao dùng để  thích ứng với Con Đường Chuyển Hóa ( Sgyur lam ) . 

Một thí dụ nhỏ trong truyền thống
để có thể minh họa điều này .

Một hành giả Tiểu thừa đi trên đường . Chợt thấy cây độc của những tham đắm phiền năo trước mặt . Anh sợ hăi và né tránh . V́ biết những hậu quả của nó . Bấy giờ một hành giả Đại thừa tiến đến cũng thấy cây độc . Nhưng anh không sợ cây chạm đến ḿnh V́ biết cách đối trị , cũng biết tịnh hóa chất độc và làm tan biến trong tánh không bằng thiền định . 

Cuối cùng một hành giả Kim Cương đi đến . Nh́n thấy cây độc trước mặt , anh không chút sợ hăi và không ngần ngại ăn trái của cây ấy . V́ biết làm thế nào chuyển hóa chất độc thành cam lồ thanh tịnh .  Phương pháp dùng ở đây là chuyển đổi theo “ Thuật luyện kim ” . Chất độc những phiền năo trong b́nh chứa của thân tâm chuyển hóa thành cam lồ trường sinh của tánh giác ; để đi đến giác ngộ ( Ye-shes ) . 

Tiến tŕnh này trong Mahayoga kết thúc bằng : Thành tựu trăi nghiệm về : Tính không thể tách ĺa của h́nh tướng và tánh không ( Snang stong zung-‘jug ) . Những trường phái mới của Phật giáo Tây Tạng như :  Sakya , Kagyud và Gelug . Dựa vào những bản dịch từ các bản văn Tantra Ấn độ sau này ; thường nói đến Anuttara Tantra được cho là tương đương với sự sắp xếp cũ là : Tantra Mahayoga .

Thừa thứ 8 :
Anuyoga .

Nhấn mạnh vào Tiến Tŕnh Hoàn Thiện ( Rdzogs-rim ) hay giai đoạn thành tựu . Tiến tŕnh này sử dụng rộng răi Yoga của kinh mạch và năng lực khí ( Rtsa-rlung ) . Đưa hành giả đến sự trăi nghiệm sâu sắc về : Tính không thể tách ĺa của phúc lạc phúc và tánh không ( Bde stong zung ‘jug ) . Nhưng phương pháp chuyển hóa khác với Mahayoga ở chỗ : Có thể tiệm tiến hay không tiệm tiến . Trường hợp của Tantra cao cấp này . Nền tảng là : Thân thể con người với những kinh mạch và luân xa . Con đường là : Tiến Tŕnh Phát Sinh và Thành Tựu . Quả là sự : Chứng đắc Ba Thân .

Thừa thứ 9 :
Atiyoga .

Được biết như là Dzogchen . Có nghĩa, như chúng ta đă nói là : “ Đại Toàn Thiện ” . Với Đại Toàn Thiện , Tiến Tŕnh Phát Sinh và Thành Tựu có nghĩa : Thuộc về những kỹ thuật mô phỏng tỉ mỉ về Bổn tôn và Mandala cũng như Yoga bên trong V́ thế , Mật truyền về kinh mạch và những năng lực khí . Không c̣n cần thiết . 

Phương pháp rốt ráo trong Dzogchen không phải từ bỏ , tịnh hóa hay chuyển hóa như kinh điển và Tantra . Vấn đề là : Con đường Tự Giải Thoát ( Rang grol lam ) . Được nhấn mạnh vào việc trực tiếp đi vào trạng thái tham thiền nhập định . Không cần bất kỳ thực hành chuyển hóa nào trước đó . Sự thành tựu chính là là : Trăi nghiệm tính không thể tách ĺa của tánh giác và tánh không ( Rig stong zung ‘jug ) . Trong các Tantra Dzogchen được t́m thấy trong Atiyoga thuộc về ba bộ giáo lư :

Thứ nhất :
Semde ( Sems sde ) hay “ Bộ Tâm ” :

Cung cấp sự tiếp cận khá trí thức để giải thích từng bước : Làm thế nào có thể đi vào trạng thái tham thiền . Tương tự với hệ thống Đại Ấn ( Mahamudra ) của Tantra Anuttara và được chia thành bốn yoga hay bốn giai đoạn . 

Thứ hai :
Longde ( Klong sde ) hay “ Bộ Không Gian ” :

Trực tiếp hơn trong sự tiếp cận . Những giai đoạn sẽ xảy ra đồng thời hơn nối tiếp như trong bộ Tâm . 

Thứ ba :
Upadesa ( Man-ngag gi sde ) hay “ Bộ Giáo Huấn Bí Mật ” .

Giả định đă biết làm thế nào để đi vào tham thiền . Như vậy có những lời khuyên và những kỹ thuật tiếp tục an định trong trạng thái tham thiền . 

Tất cả mọi giáo lư này được t́m thấy trong Tantra Dzogchen được xem là phát lộ bởi : Phật Bổn Nguyên Samantabhadra . Phương diện Pháp thân của Phật quả vốn siêu vượt ư niệm trí thức hữu hạn . Những Tantra Dzogchen không gán cho đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni trực tiếp giảng dạy . V́ đă xuất hiện và được dạy ở bắc Ấn độ vào khoảng hai ngàn rưỡi năm trước .

Tuy nhiên , Phật quả - Nguyên lư giác ngộ . Không hề bị giới hạn vào một điểm cá biệt theo quy ước thời gian và lịch sử . Cũng không phải Phật quả chỉ được đạt đến một lần duy nhất được định sẵn ở một nơi hay một thời điểm đặc biệt  nào . Như thế , có nghĩa tất cả chúng ta có thể thể hiện là : Ǵn giữ những truyền thống của những ǵ đă xuất hiện từ xa xưa và ngay ngay từ bây giờ . 

Sự cứu độ của chúng ta không tùy thuộc vào niềm tin vào một biến cố lịch sử .  Đúng hơn Phật quả là cái ǵ đó nằm ngoài lịch sử và tiến tŕnh thời gian . Có thể gom gọn trong một thuật ngữ là : “ Bổn nguyên ” .  Nhưng Phật quả bao giờ cũng hiện diện b́nh đẳng trong ḷng của tất cả chúng sinh như tiềm năng dành riêng cho sự thành tựu giải thoát và giác ngộ . V́ thế , không hề có một chúng sinh nào không phải là Phật tiềm năng ẩn chứa tận cùng trong thể tánh .

V́ tánh Phật vẫn hiện hữu ở đây và ngay bây giờ trong ḍng chảy từ vô thủy của những kiếp sống . Nhưng đă bị che khuất bởi những che chướng của xúc cảm và tri thức . Tuy vậy , Phật quả vẫn ở đó trong mọi thời như mặt trời lúc nào cũng hiện hữu trong bầu trời cho dù bị mây che khuất và khi những vầng mây ám tan biến . Lúc ấy , mặt trời hiển nhiên sẽ sáng rực trên bầu trời xanh cao vút .

Cũng thế , khi những che chướng tan biến . Phật tánh vốn sẵn tuy chưa được nhận biết . Bây giờ tự biểu lộ một cách tự nhiên . Chúng ta nhận thấy được tất cả sự rực rỡ vinh quang của nó . V́ thế trong vấn đề con đường tâm linh và trong những thuật ngữ Phật giáo có nghĩa là : Thực hành Pháp , là xóa sạch những lớp che ám tối tăm , để Phật quả bẩm sinh chiếu suốt và sáng soi toàn thể cuộc đời và vũ trụ .

V́ nguyên lư giác ngộ vượt khỏi thời gian và sự hiện hữu có điều kiện . Phật quả có thể biểu lộ vào bất cứ thời gian nào . Không bị giới hạn vào sự phát hiện , mặc khải hay sự hiện thân xảy ra vào một thời điểm đặc biệt theo thời gian và lịch sử . Do đó , những lời dạy hay giáo lư của Dzogchen được phát lộ và sẽ được phát lộ nhiều lần trong suốt lịch sử nhân loại trên hành tinh này .

Tantra Dzogchen nói đến mười hai vị Thầy vĩ đại của Dzogchen , đă xuất hiện trong thời tiền sử và đức Thích Ca Mâu Ni là vị cuối cùng trong chu kỳ này .  Và Dzogchen cũng không giới hạn trong thế giới loài người ở hành tinh trái đất .  Những Tantra Dzogchen , đặc biệt là Sabda-mahapraga Tantra (6) . Nói đến mười ba hệ thống hành tinh Dzogchen đang giữ ǵn và chỉ dạy . 

Thật vậy , theo nguồn gốc Tantra . Chỉ có một số nhỏ sáu mươi bốn trong vô số Tantra Dzogchen đang hiện hữu được t́m thấy trong thế giới chúng ta .  Có những Tantra cho là được đưa đến hành tinh này từ nhiều thế giới trong những chiều kích khác nhau . Bởi những Vidyadhara là người và chẳng phải người như chúng ta . V́ một Vidyadhara hay Rig-‘dzin trong tiếng Tây tạng là cá nhân thành tựu ( ‘dzin ) hoàn toàn thấu hiểu trạng thái bổn nguyên ( Rig-pa ) .

Khi Phật quả hay nguyên lư giác ngộ biểu lộ trên b́nh diện ngoài thời gian hay điều kiện lịch sử . Sự biểu lộ này được gọi là Vajrasattva có : Năm Phương Diện Tối Thượng ( Phun-tshogs Inga ) : 

1-
Vị Thầy Tối Thượng là :
Báo thân - Vajrasattva .

2-
Nơi Chốn Tối Thượng biểu lộ là :
Akanistha – B́nh diện cao nhất của hiện hữu.

3-
Tùy Tùng Tối Thượng là :
Thính chúng đại Bồ Tát.

4-
Giáo Pháp Tối Thượng là :
Những lời dạy cao nhất của Đại thừa và Kim Cương thừa.

5-
Thời Gian Tối Thượng khi sự phát lộ xảy ra là :
Vĩnh cửu – V́ nằm ngoài tiến tŕnh thời gian .

Khi một Bồ Tát tịnh hóa tâm thức và có cái nh́n đă đầy đủ . Bấy giờ , cơi của Báo thân sẽ nhận thấy được . Ngài có thể nhận lănh những giáo lư trực tiếp từ Phật Vajrasattva .  V́ thế cho trong nhiều miền của Ấn độ và đâu đó tại Uddiyana sau thời Thích Ca Mâu Ni . Xuất hiện những vị tổ vĩ đại hay những Mahasiddha ( Những đại Thành Tựu giả ) như : Saraha , Nagarjuna , Kampalapa , vua Jah . . . Các ngài đă nhận những phát lộ Tantra theo cách này .

Theo  truyền thống Dzogchen ;
nói đến ba loại trao truyền :

1-
Trao truyền trực tiếp
( Dgonys brgyud ) .

Xảy ra trong một khoảnh khắc trực tiếp tâm qua tâm ,
Không dùng ngôn ngữ can dự vào .

2-
Trao truyền bằng biểu tượng
 ( Brda brgyud ) .

Qua sự phô diễn nhận thấy những dấu hiệu và biểu tượng ,
Trong sự im lặng hay chỉ vài lời khai thị .

3-
Truyền khẩu
( Snyan brgyud ) .

Giải thích bằng lời từ miệng thầy đến tai tṛ .

Theo truyền thống , nguồn gốc tối hậu của những giáo lư Dzogchen là Pháp thân - Phật Bổn Nguyên Samantabhadra được vẽ theo quy ước trong bức họa dài là : Một thiền giả màu xanh da trời ở trần ngồi trong tư thế thiền định giữa lưng chừng trời  . V́ Pháp thân siêu vượt ư niệm trí thức . Không thể diễn tả bằng lời . Nên chúng ta dùng biểu tượng toàn khắp và vô tướng trong h́nh thức này ; để tâm hữu hạn của con người được cảm thức cụ thể về ư nghĩa sâu thẳm và bao la của nó . 

Samantabhadra trần truồng ,
V́ bản tánh của tâm trần trụi tất cả những tư tưởng ;
Và ư niệm suy diễn lan man .

Ngài có màu xanh của bầu trời ,
V́ bản tánh của tâm là trống không ,
Trong sáng và rỗng rang .

Ngài được gọi là bổn nguyên hay Adibuddha ,
V́ vượt thời gian và hiện hữu theo điều kiện ,
Không c̣n rơi vào sinh tử.

Cho nên ,
Ngài sở hữu hai sự thanh tịnh :

1-
Ngài vốn thanh tịnh .

2-
Đă tịnh hóa khỏi mọi vết dơ ngẫu sinh .

Từ Sanskrit Dharmakaya ( Pháp thân ) có nghĩa : Chiều kích , kích cỡ ( Kaya ) của tất cả Thực Tại ( Dharma ) . Sự truyền thông của giáo lư Dzogchen từ Pháp thân Samantabhadra đến Báo thân Vajrasattva  , tiêu biểu cho sự trao truyền trực tiếp giữa thầy và  tṛ ( Dgongs brgyud ) trong khuôn khổ thông thường của Tantra Dzogchen tŕnh bày những giáo lư .

Chẳng hạn ; trong Tantra Kulayaraja (7) cuộc đối thoại giữa Samantabhadra và Vajrasattva . Vị trước là Thầy và vị sau là người nghe . Tuy nhiên , như giải thích trong Tantra : Thầy và người nghe đồng nhất , họ xuất hiện một cách tượng trưng như hai thực thể độc lập và riêng biệt để giáo lư có thể được tŕnh bày ; để giúp con người thấu hiểu bằng h́nh thức đối thoại .

Vajrasattva là phương diện Báo thân của Phật quả . Tuy nhiên , trong phương diện tập họp . Báo thân tượng trưng theo quy ước là : Năm gia đ́nh chư Phật thường được biết ở phương Tây như năm vị Phật Thiền (8) . Năm vị này tượng trưng như thính chúng của Vajrasattva . Như đă nói , thầy và người nghe đều đồng nhất trong tinh túy của chân lư giải thoát . 

Vajrasattva đuợc tả là màu trắng hay đôi khi màu xanh . Cầm trong tay trượng Kim cương và chuông . Tượng trưng cho hai đại lượng giác ngộ , Đại Bi và Trí Huệ theo thứ tự . Ngài đẹp rực rở và được trang trí với những món ngọc báu và lụa như những hoàng tử Ấn độ ngày xưa . Tượng trưng cho sự giàu có và phong phú tràn trề của Sambhogakaya ( Báo thân ) .

Sambhogakaya , từ Sanskrit nghĩa đen là : Chiều kích , kích cỡ ( Kaya ) của sự thụ hưởng ( Sambhoga ) . Sở dĩ gọi như vậy v́ sự nh́n thấy sẽ mang lại phúc lạc ; và sự hiện diện thiêng liêng của Báo thân được những đại Bồ tát địa thứ bảy cho đến địa thứ mười thọ hưởng .

Báo thân sở hữu năm phương diện tối thượng đă nói ở trên . Sự truyền thông của những giáo lư Dzogchen từ Báo thân Vajrasattva . Vĩnh viễn trụ trong b́nh diện cao nhất của hiện hữu ; đến những Hóa thân khác xuất hiện ở những b́nh diện khác nhau của hiện hữu . Tiêu biểu sự trao truyền bằng những biểu tượng . 

Suốt những thời đại có nhiều sự trao truyền từ Vidyadhara đến những loài không phải con người như : Chư Thiên , Long , Dạ xoa , La Sát . Kể cả phạm vi loài người . Sự trao truyền chính yếu từ Báo thân Vajrasattva đến Hóa thân Prahevajra  c̣n được biết với tên Garab Dorje . V́ lư do này , nên nói rằng : Garab Dorje là vị thầy con người đầu tiên của Dzogchen và ngài chính thực là sự lưu xuất hay hiện thân của Vajrasattva .

Garab Dorje hay Prahevajra sinh trong xứ Uddiyana ; Tây bắc Ấn độ . Theo một số nguồn , sự kiện này xảy ra 166 năm sau khi Phật nhập Niết bàn . Thời đó xứ Uddiyana có một cái hồ rất rộng gọi là Dhanakosa - “ Kho tàng của những người giàu ” . Trên bờ hồ có ngôi chùa đẹp Sankarakuta , bao quanh bởi một ngàn sáu trăm lẻ tám điện nhỏ .  Xứ này do vua Uparaja và hoàng hậu Prabhavati cai trị . 

Vua và hoàng hậu có một công chúa là Sudharma . Lớn lên trở thành một thiếu nữ có rất nhiều đức hạnh . Khi nghe được chánh Pháp , cô quyết định từ bỏ cuộc sống thế gian và phát những thệ nguyện làm một Tỳ khưu ni . Thế là công chúa cùng cô hầu Sukha , rút vào đảo cát vàng giữa hồ Dhanakosa . Sống trong một túp lều tranh đơn sơ để thiền định và thực hành Yoga Tantra .

Trong giấc mộng Tỳ khưu ni thấy h́nh dáng người nam màu trắng vô nhiễm và vinh quang đến từ bầu trời đặt vương miện lên đầu cô và trao cho một b́nh pha lê có ghi năm âm tiết : “ Ohm – Ah - Hum - Swaha ” (9) . Sau khi tôn vinh như vậy,  người ấy tan biến thành ánh sáng và hoà tan vào thân cô . Ngay lúc đó cô có thể thấy mọi sự trong ba cơi một cách rơ ràng . 

Sáng hôm sau , tỳ khưu ni thuật lại giấc mộng cho người hầu và chẳng bao lâu họ khám phá cô tu sĩ trẻ có thai . V́ tỳ khưu ni Sudharma là một trinh nữ . Nên cô rơi vào sự khủng hoảng . V́ sợ vua cha và cả vương quốc biết được việc ô nhục này . Sau đó đứa con trai ra đời . Dù đứa bé này là tái sinh của một Vidyadhara đă nhận những giáo lư Dzogchen trong thế giới chư thiên . Nhưng cô không thể nhận biết được .

Sợ hăi và nhục nhă . Tỳ khưu ni kêu lên : “ Đứa bé trai không cha này . Không ǵ khác hơn một linh hồn xấu ! ” , và cô ném vào một cái hố đầy tro ngoài lều . Mặc dù cô người hầu quan sát nhận thấy đứa bé có những dấu hiệu tốt lành ; báo cho Tỳ khưu ni : “ Đứa bé có thể là sự nhập thân của Đại Bồ tát ” . Nhưng người phụ nữ trẻ hoàn toàn bị quẫn trí nên không nghe .

Tuy nhiên ngay lúc đó , có nhiều âm thanh kỳ diệu và những tia sáng cầu vồng xuất hiện khắp nơi .  Ba ngày sau , hơi tỉnh trí Tỳ khưu ni ra khỏi lều đến xem đứa bé trong hố tro . Lạ lùng thay đứa bé không sao cả và vẫn rất khỏe mạnh . Tức th́ cô biết rằng nó là một Hóa thân nên đem nó trở về lều tắm rửa .

Bổng dưng có tiếng nói từ bầu trời vang dội : “ Ôi ! , bậc che chở . Vị Thầy . Đấng làm sáng tỏ bản tánh của những sự vật và che chở cho thế gian . Xin hăy là người che chở đầy quyền lực cho chúng tôi ! . Ôi Kim Cương của bầu trời,  chúng tôi xin cầu nguyện ngài ! ”  .

Những Dakini tán thán đứa bé kỳ diệu sinh từ một trinh nữ và dâng sự cúng dường .  Lập tức đứa bé cất nói và bắt đầu dạy cho những Dakini . Lời dạy  đầu tiên của đứa bé đầy huyền diệu được gọi là : “ Bầu Trời Vĩ đại của Vajrasattva ” - ( rDo-rje sems-dpa’ nam-mkha’ che ) (10) .

Khi đứa bé lên bảy , nó nài nỉ mẹ cho đi tranh luận với những học giả uyên thâm về nghĩa của Pháp . Cuối cùng , bà mẹ không thể chống đối . Cậu bé hiên ngang đến cung điện Uparaja . Nơi vua đang khoản đăi gần năm trăm học giả uyên bác . Cậu bé không ngần ngại đến trước toàn thể hội chúng và thách thức những học giả tranh luận . 

Cuộc tranh luận bắt đầu , cậu nêu lên những luận cứ từ quan kiến về Quả ( ‘bras-bu ) và đánh bại hoàn toàn năm trăm học giả bảo vệ quan điểm Nền Tảng ( gzhi ) . Sau khi đánh bại họ , cậu tiếp tục dạy cho họ về Atiyoga . Chân lư cậu hoàn toàn chứng ngộ trước khi sinh ra . 

Những học giả lớn tuổi và đáng kính . Hoàn toàn ngạc nhiên sự hiểu biết bao la và cái nh́n thấu suốt của cậu trai bảy tuổi . Nhưng đă phát triển quá sớm . Và toàn thể hội chúng học giả xin được đảnh lễ cậu . Họ gọi cậu bằng danh hiệu cao cả : Prajnabhava - “ Người có bản chất là trí huệ ” .

Đức vua hoàn toàn thích thú cậu trai kỳ diệu , trưởng thành sớm này và đặt tên Prahevajra ( TT. Garab Dorje ) -  “ Kim cương của thích thú tối thượng ” . V́ mẹ cậu , công chúa và tỳ khưu ni Sudharma vào lúc sinh đă ném cậu vào trong hố tro . Nên cũng được biết là Vetalasukha ( Ro-langs  bde-ba) -  “ Ma cà rồng hạnh phúc ” và  Vetalabhishmanarva ( Ro-langs thal mdog ) -  “ Ma cà rồng màu tro ” .

Không hề nghiên cứu bất cứ quyển sách nào . Từ trí nhớ cậu thông suốt tất cả kinh điển và Tantra của đức Phật Thích Ca Mâu Ni . Cũng như vô số bài kệ thuộc nền tảng giáo lư Dzogchen . Sau khi sinh không bao lâu . Vajrasattva xuất hiện và ban cho pháp cậu quán đảnh toàn bộ Tánh giác ( Rig-pa’i  spyi blugs kyi dbang ) . Và cậu chứng ngộ : Trí Huệ Bổn Nguyên vượt khỏi sự tu tập ( Mi slob-pa’i  ye-shes ) . Như thế trong khoảnh khắc cậu hiểu thật nghĩa của tất cả những Tantra trọn vẹn .

Về sau , Prahevajra lên phía bắc . Vào vùng núi non hoang vu , nơi chỉ có quỷ đói và những hồn ma sống . Ở đây , phía mặt trời mọc ngài ở lại ba mươi hai năm . Trong thời gian này . Vjrasattva lại xuất hiện bằng khối cầu sáng chói màu cầu vồng ; và ban cho ngài những giáo huấn bí mật sáu mươi bốn trăm ngàn ( sáu triệu bốn trăm ngàn ? )  Tantra của Dzogchen . 

Vajrasattva cho phép Prahevajra viết lại những Tantra khẩu truyền này .  Bấy giờ , khi c̣n thiếu niên . Ngài ở thành tŕ núi non của ngọn núi Mlaya cùng với sự phụ tá của ba Dakini và viết lại những Tantra Dzogchen . Sau đó cất dấu trong hang động trên núi như những kho tàng được dấu kín . Và chỉ định những Dakini làm  người ǵn giữ .

Khi sống nơi hoang dă giữa những đỉnh cao . Đất bị rung động đến bảy lần . Một tu sĩ Bà la môn ở làng phía dưới tố cáo,  ngài tạo ra những cơn chấn động bằng pháp thuật để làm tổn thương những giáo lư Bà la môn . Vua địa phương thuộc Ấn giáo kết tội . Thậm chí những người chăn cừu cũng tin như thế và đi t́m ngài . 

Khi người của vua đến miệng hang . Họ nghe một tiếng động sâu sắc và mang sức chấn động mạnh từ cửa vào như tiếng rống của A tu la ở sâu trong ḷng đất . Ngay lúc ấy người đàn ông trẻ như một thiền giả trần truồng xuất hiện trước đám đông . Giữa những tia sáng cầu vồng và không ai có thể đặt tay lên người ngài . V́ thế , vua và đoàn tùy tùng hoàn toàn bị khuất phục quay trở về với chánh pháp .

Thêm nữa , Prahevajra biểu lộ nhiều thần lực kỳ diệu như : đi trên mặt nước của ḍng sông đang chảy nhanh . Xuyên qua những tảng đá . . . Ngài xuất hiện trước sự chứng kiến rất nhiều người , thân bao quanh bởi  khối ánh sáng cầu vồng . Khiến cho mọi người tin tưởng và sùng mộ .

Rồi trèo lên Kim Xí điểu , ngài bay qua những dăy Hy Mă Lạp Sơn và đi về phía đông . Qua những cánh đồng lớn của sông Hằng đến đại tháp , đất hỏa thiêu Sitavana - “ Rừng lạnh ” gần Vajrasana (11) . Ngài ban quán đảnh và truyền những lời dạy cho nhiều đệ tử trong đó có Dakini Suryaprabha .  Và tại vùng đất hỏa thiêu đáng sợ này , ngài ở lại rất nhiều năm có chúng Dakini vây quanh .

Trong thời gian đó có một Đại học giả , sinh ở thành phố phía Tây Ấn độ là con của một giáo sĩ Bà la môn . Thông thạo năm khoa học ( Ngũ minh ) và sự hiểu biết kinh sách không ai có thể sánh . Ông có tên là Manjusrimitra . Một hôm trong thị kiến , Bồ tát của trí huệ - Manjuusri ( Văn Thù ) báo rằng :  “ Thiện nam tử , nếu thành thật mong muốn đạt Phật quả ngay trong đời này . Ngươi nên đến đất hỏa thiêu Sitavana ” .

Theo lời khuyên , ông đi về phía đông đến Sitavana và gặp Prahevajra . Vị này nói với ông : “ Bản tánh tâm là Phật từ sơ thủy . Tâm không sinh không diệt như hư không .  Nếu thật nghĩa thể tánh tối hậu của tất cả hiện tượng được chứng nghiệm . Nếu sự hiểu được duy tŕ và không có sự t́m cầu khác . Đó là thiền định chân thật ” . Manjusrimitra hiểu được ư nghĩa của lời dạy này ngay lập tức .

Manjusrimitra ở lại Sitavana khoảng bảy mươi lăm năm và từ Guru , ngài đă nhận sự trao truyền toàn bộ Dzogchen Atiyoga của chính Vavjrasattva . Vào cuối thời kỳ này , Prahevajra phô diễn nhiều dấu hiệu lạ lùng . Thân trở thành bản chất của ánh sáng và ngài tan vào bầu trời . Những biểu lộ này chỉ cho thấy Prahevajra đă thành tựu Thân Ánh Sáng Cầu Vồng ( ‘ja’lus ) . Manjusrimitra quá sức buồn rầu và tuyệt vọng rồi ngă xuống bất tỉnh . Khi tỉnh lại , ngài kêu lên : “ Ôi trời , trời ơi ! . Ôi cơi giới bao la ! . Nếu ngọn đèn vị thầy chúng ta đă ra đi . Bóng tối của thế giới ai sẽ xua tan ? ” .

Tức khắc , bậc thầy xuất hiện trên ngai trong bầu trời giữa khối ánh sáng cầu vồng . Với âm thanh như sấm nổ , một hộp nhỏ bằng vàng cỡ bằng móng tay rơi xuống từ ánh sáng ấy . Trong không trung , hộp nhỏ đi ṿng quanh Manjusrimitra ba lần rồi rơi vào trong bàn tay phải của ngài . Sau đó thị kiến về thầy tan biến vào bầu trời . 

Khi mở hộp nhỏ , ngài thấy di chúc cuối cùng ( Zhal chems )  của Prahevajra , được viết bằng mực đá xanh da trời trên mặt năm chất liệu quư . Chỉ nh́n thấy chúc thư này, Manjusrimitra đạt sự chứng ngộ ngang bằng Prahevajra . Di chúc cuối cùng , tổng kết toàn bộ giáo nghĩa của Dzogchen là : “ Ba Câu Đánh Vào Ba Điểm Thiết Yếu” ( Tshig gsum gnad brdeg ) (12) . Bấy giờ Manjusrimitra xếp loại và in những Tantra đă nhận thành ba bộ giáo lư : 

1-
Những giáo lư nhấn mạnh về :
Hiện trạng tự nhiên của tâm
( Sems nyid  gnas-lugs ) ,
Được ngài xếp thành :
Semde - bộ Tâm .
Dĩ nhiên “ Tâm ” nghĩa là :
Bản tánh của tâm hay Bồ đề tâm .

2-
Những giáo lư nhấn mạnh về :
Tự do vượt khỏi bất kỳ nỗ lực nào .
Được ngài xếp thành :
Longde - bộ Không Gian .

3-
Những giáo lư nhấn mạnh về :
Những điểm thiết yếu.,
Được ngài xếp thành :
 Upadesa - bộ Giáo Huấn Bí Mật .

Ngài c̣n chia những giáo lư phi thường nhất của Upadesa ; được biết như Nying-thig hay “ Tinh túy của tâm” thành hai loại : 

1-
Sự truyền khẩu .
( Snyan brgyud ) .

2-
Giải thích về Tantra .
( Bshad rgyud ) .

Vào lúc đó v́ không ai sẵn sàng nhận những giáo lư phần thứ nhất . Ngài cất dấu những bản văn dưới một tảng đá lớn phía đông Vajrasana . Sau đó , ngài rút lui về đất hỏa thiêu So-sa-ling ở phía tây (13) . Nơi ngài ở một trăm lẻ chín năm trong thiền định để thực hành Hạnh Mật truyền ( Gsang spyod ) .

Vào thời gian này Srisimha đến từ thành phố SokhyamTrung Hoa ; cùng với Buddhajana , trở thành đệ tử của Manjusrimitra . Trước đó , khi đi về phía tây bằng lạc đà qua thành phố Ser-ling Trung Hoa . Srisimha có một thị kiến nh́n thấy Bồ tát Quán Thế âm trong bầu trời nói với ngài : “ Thiện nam tử , nếu muốn đắc quả . Hăy đến một nơi ở Ấn độ gọi là So-sa-ling ”  . Sau khi từ giă núi thiêng Ngũ đài Sơn ở nam Trung Hoa . Nhờ đă có được Siddhi hay thần lực , nên đến Ấn độ như một ngọn gió . Tại đất hỏa thiêu So-sa-ling ngài gặp Manjusrimitra và nhận những giáo lư từ vị này trong hai mươi lăm năm .

Vào cuối đời , Manjusrimitra biến mất từ đỉnh một ngọn tháp giữa đất hỏa thiêu . Bấy giờ th́nh ĺnh ngài lại xuất hiện trong bầu trời và đặt một hộp nhỏ nạm ngọc vào tay của Srisimha . Trong đó là di chúc cuối cùng có tên là : sGom nyams drug-p - “ Sáu kinh nghiệm thiền định ” . Ngay khi đọc di chúc này , Srisimha tức thời chứng ngộ trí sâu xa như Manjusrimitra . Srisimha cũng t́m ra những bản văn thầy ḿnh đă cất dấu gần Vajrasana . Srisimha tiến hành chia thành bốn phạm trù : 

1-
Ngoại .

2-
Nội .

3-
Bí mật .

4-
Cực kỳ bí mật .

Những giáo lư này được trao cho những đệ tử là Vimalamitra và Jnanasutra . Về sau ngài trở lại Trung Hoa và vào lúc cuối đời cũng biến mất thành như Thân Cầu Vồng . Như vậy tất cả những vị thầy sơ thời của ḍng Dzogchen đều đạt đến Thân Ánh Sáng Cầu Vồng (14) .

Cả hai Vimalamitra và Jnanasutra đều nhận từ Srisimha ḍng khẩu truyền Dzogchen ; được ban cho trong ṿng mười hai năm khi cư ngụ trong đất hỏa thiêu Sitakara . Về sau vua Tây Tạng Tisong Detsan mời Vimalamitra ở lại tu viện Samye trong mười ba năm .  Như vậy , bộ Upadesa được truyền cho người Tây Tạng , cũng như một phần của bộ Semde .  Khi rời Tây Tạng , Vimalamitra đến Ngũ đài Sơn ở Trung Hoa .

Trước khi Vimalamitra đến Tây Tạng trong thời cùng vị vua ấy . Vairocana xứ Pagor đă xuất gia làm tăng ở Samye với trụ tŕ Santiraksita . Ngài là thành viên của nhóm bảy người Tây Tạng đầu tiên được thọ giới Tỳ kheo . Bấy giờ ngài được vua cử đi Ấn độ để tiếp tục những nghiên cứu . Tại Vajrasana ngài đă có được tất cả Tantra gốc của Semde và Longde . Như vậy , có  lẽ hai lbản văn này đă được Vairocana rộng răi truyền cho những người Tây Tạng . Tại Tây tạng , Vairocana cũng là đệ tử của Guru Padmasambhava . Tuy nhiên , vị thầy này chủ yếu dạy Dzogchen trong bối cảnh của Anuyoga hơn là hệ thống độc lập .

Trong khi ở Ấn độ, khi lang thang qua rừng trầm hương gần Dhanakosa , Vairocana gặp Srisimha . Vào lúc đó Srisimha đang ở trong tháp chín tầng được dựng lên một cách thần kỳ . Nhưng trước vị nữ thiền giả thị giả sẽ dẫn chàng thanh niên Tây Tạng vào gặp Srisimha cần chứng tỏ thần lực của ḿnh . 

Đến trước Srisimha , Vairocana cầu xin được học những giáo lư này một cách bí mật vào ban đêm . V́ vua cấm truyền rộng những giáo lư Dzogchen . V́ vua và triều thần sợ giáo lư vượt khỏi nhân quả sẽ phá hoại quyền lực của họ . Cho nên , ban đêm Vairocana viết ra mười tám giáo huấn của bộ Tâm với sữa dê làm mực trên vải trắng , để vua và quần thần không thấy . Trong những bản văn này , bao gồm bản văn Dzogchen thứ nhất mà Vairocana đă dịch ra tiếng Tây Tạng : Rig pa’I khu-byug nổi tiếng “ Tiếng chim cu cu của sự tỉnh giác ” (15) . Xin chuyển dịch bản văn gốc như sau :

Dù bản tánh của sự đa thù là bất nhị ,
Về những sự vật cá thể ;
Nó thoát khỏi những tạo tác ư niệm .
Dù không có tư tưởng về cái được gọi là :
“ Chỉ như vậy ” ,
Những h́nh tướng đa thù được tạo ra rốt ráo đă toàn thiện .
Bởi v́ ;
Mọi sự vốn trọn vẹn trong chính chúng .
Từ bỏ căn bệnh nỗ lực ,
Với sự  hiện diện ;
Người ta an trụ không nỗ lực trong trạng thái tham thiền .

Tuy nhiên , Vairocana không thỏa măn với chỉ mười tám giáo huấn Semde . Nên Srisimha ban cho ngài những quán đảnh và những giáo huấn của những Tantra khác của bộ Semde . Với những phần đoạn trắng , đen và nhiều màu ( Dkar nag khra gsum ) của những giáo lư Longde . 

Sau đó , Vairocana đạt đến sự hoàn thiện trong tất cả những giáo lư . Ở đất hỏa thiêu Dhumapitha - “ Chỗ của khói ” . Ngài có một thị kiến về Garab Dorje ban cho Sáu mươi bốn trăm ngàn ( sáu triệu bốn trăm ? ) giáo lư của Dzogchen . Sau đó , ngài trở về Tây Tạng nhờ thần lực “ Đi nhanh ” và truyền lại cho những đệ tử những giáo lư Dzogchen Semde và Longde .

Bản văn chúng tôi dịch ở đây , được mở ra bằng sự kính lễ của tác giả đối với những vị thầy trong ḍng truyền . Đó là điều thích hợp duy nhất . V́ tất cả giáo lư tâm linh đều được liên kết với sự trao truyền . Sau đó tác giả nói ngắn gọn về những thực hành Sơ bộ ( Sngon’gro ) ; về bốn thiền định làm thay đổi thái độ của chúng ta đối với cuộc sống . Điểm chính yếu là : Nhận biết nghĩa thật sự hơn chỉ phân tích tỉ mỉ theo trí thức . 

Từ Shes-rig Tây Tạng mang hai ư nghĩa :

1-
Hiện tại .

2-
Có thể hiểu biết .

Có nghĩa , chúng ta nhận biết cái ǵ cần biết . Chẳng hạn , cần nhận biết vào mọi lúc về cơ hội độc nhất là : Cuộc sống lúc nào cũng vô thường . Sự tỉnh giác này sẽ kích động để chúng ta không c̣n phung phí cuộc đời hiện tại trong xao lăng phóng dật . Nhưng điều quan trọng nhất trong tất cả những thực hành sơ bộ là Guru Yoga . Guru Yoga là phương cách hiệu nghiệm nhất ; dung để duy tŕ mọi trao truyền đă nhận . Phần đoạn chính yếu bao gồm :

1-
Thực hành ban ngày
( Nyin-mo’i  mal-‘byor ) .

2-
Thực hành ban đêm
( Mtshan-mo’I  mal-‘byor ) .

Về phương diện thực hành ban ngày ,
có ba chủ đề được xem xét :

Chủ đề thứ nhất :
Thấu hiểu ( Rtogs-pa ) thực hành . 

Trong Đại Toàn Thiện , Sự thấy ( Lta-ba ) được xem quan trọng hơn thực hành thiền định . Sự thấy là cách chúng ta thấy và nh́n ra những sự vật . “ Hiểu ” không có nghĩa chỉ là hiểu biết về trí thức, như có thể nhận lấy từ một quyển sách hay từ lớp học . Có nghĩa “ Hiểu ” là : Đi vào sự hiểu biết từ sự thấy khi trăi nghiệm . 

Để có được điều này , cần phải có sự giới thiệu , dẫn nhập ( Ngo-sprod ) của vị thầy . Chỉ đúng cái ǵ là : Sự hiện diện , tỉnh giác nội tại hay tánh giác ( Rig-pa ) . Nếu không trăi nghiệm cụ thể mà chỉ dựa vào sự diễn tả mà những người khác . Nên dễ rơi vào sai lầm trong thực hành .

Chủ đề thứ hai :
An định ( Brtan-pa ) thực hành .

Khi thấu hiểu về trạng thái tham thiền nhập định . Về cái được gọi là : Thật nghĩa của rig-pa bằng sự trăi nghiệm từ chính ḿnh . Kế tiếp theo phải thực hành : “ Thấy ” ḿnh trong trạng thái  “hiện diện ” ; nhờ vào ba giáo huấn thiết yếu ( Bsre-ba ) :

1-
Buông xả .

2-
Thư giăn .

3-
Hiện diện
( Lhug-pa ) .

Tất cả được xếp vào đề mục an định sự thực hành .

Chủ đề thứ ba :
Tiến bộ ( Bogs dbyung ) trong thực hành :
Ḥa nhập

Sự thực hành được diễn tả ở đây là : Ḥa nhập vào không gian của bầu trời ( Nam-mkhar  ar-gtad ) . Hoàn toàn khác với việc trụ vào một đối tượng trong thiền định .  Thiền định là làm việc với tâm và tham thiền nhập định ở trên tâm .

Sau khi tập chú sự chú ư vào một điểm trong không gian . Chúng ta thư giăn và cho phép sự tỉnh giác ḥa nhập vào bầu trời . Nói chung , một số giáo huấn dạy về sự thư giăn , buông xả với hiện diện trong sự cảnh giác . Nhưng nguyên lư buông xả trong Đại Toàn Thiện không bao giờ để rơi vào hôn trầm hay buồn ngủ . Chẳng hạn , giống như con ḅ trên cánh đồng nhai lại cỏ đă ăn . 

Trạng thái này của tâm được gọi là : Lung ma bstan . Nhưng không phải là Rig-pa . Buông xả , thư giăn và hiện diện có nghĩa : Khi những giác quan tiếp xúc với bất cứ điều ǵ . Chúng ta đừng bao giờ ư niệm hóa hay phán đoán nó là cái ǵ ( định danh ) . Và chỉ để nó xuất hiện tư nhiên như nó đang là . . .  

Đây không phải thuộc vấn đề : Cố định sự chú ư một cách nghiêm ngặt về  đối tượng thiền định hay cố gắng đè nén những tư tưởng đến từ bên ngoài . V́ chúng ta đă hiểu đè nén như vậy là không thể .  V́ càng cố gắng đè nén những tư tưởng , lại thu hút chúng xuất hiện càng nhiều và chúng nhắm vào chúng ta như đối tượng để trả thù . 

Theo Đại Toàn Thiện , vấn đề không phải do những tư tưởng diễn dịch lan man ( Rnam-rtog ) sinh khởi hay không . Nếu chúng ta không c̣n xao lăng và không chay theo chúng . Vấn đề thật sự cần làm là : Để yên những sự vật tự chúng . Không t́m cách thay đổi hay sửa sang ( Ma bcos-pa ) những tư tưởng đang sinh khởi .

Tuy nhiên , khi tiếp tục thực hành tham thiền . Một số rắc rối vẫn có thể sinh khởi do hôn trầm hay xáo động ( trạo cử ) . Có những cách để xử lư những rắc rối này . Cũng thế , vài kinh nghiệm có thể sinh khởi trong khi thực hành . Nhất là những trăi nghiệm về trạng thái “ Lạc ” ( Bde-ba’i nyams ) , sáng tỏ , quang minh ( Gsal-ba’i nyams ) và tánh không hay tư tưởng không c̣n lan man ( Mi rtog-pa’i nyams ) . 

Không nên lầm lẫn những trăi nghiệm này với tham thiền hay Rig-pa . Cũng không để chúng làm tâm thức chúng ta xao lăng . V́ chúng chỉ là sự trăi nghiệm chứ không ǵ khác . Khi chúng ta buông xả thân , lời và tâm . Bấy giờ những năng lựợng được giải phóng khỏi sự bám chấp và bắt đầu biểu lộ tự do và tự phát . 

Từ đó , chúng ta có thể thấy nhiều thị kiến đẹp đẽ . Nghe những âm thanh và có những cảm nhận lạ lùng.. . . Nhưng cần nhận thức rằng : Tất cả những cái ấy chỉ là sự biểu lộ năng lựợng và không nên để chúng dẫn đi xa . Có nghĩa ; đừng xem ḿnh đạt được quyền năng hay chứng đắc thần thông . Đây là phương pháp làm thế nào để có thể tiến bộ trong thực hành .

Thực hành ban đêm

Có hai phần :

a)
Thực hành buổi tối .
( Srod kyi rnal-‘byor ) .
Trước khi đi vào giấc ngủ  .
Thực hành Tịnh Quang ( ‘od gsal ) tự nhiên .

Tiến tŕnh đi vào giấc ngủ giống như tiến tŕnh đi vào cái chết . Lúc rơi vào giấc ngủ trước khi bắt đầu mộng . Chúng ta sẽ trăi nghiệm về Tịnh Quang - Sự quang minh trong sáng của trạng thái bổn nguyên . Nếu nhận biết , chúng ta có thể giải thoát ngay lúc chấm dứt cuộc đời bằng cách ḥa nhập vào . 

Đây là phương pháp rất hiệu quả dùng để duy tŕ “ hiện diện ” . Khi rơi vào giấc ngủ .  Hiệu quả gần là : Phát sinh những giấc mộng minh bạch . Có nghĩa nhận thức đươc ḿnh đang mộng và đang ở trong trạng thái mộng . V́ ư thức được những giấc mộng . Chúng ta có thể phát triển và chuyển hóa và sử dụng làm cứ điểm cho sự thực hành . Tuy có rất nhiều phương pháp phức tạp được nói trong các Tantra về thực hành Yoga giấc mộng . Nhưng phương pháp Tịnh quang tự nhiên hoàn toàn đơn giản và rất trực tiếp cũng hoàn thành cùng kết quả .

b)
Thực hành buổi sáng .
( Tho-rangs rnal-‘byor ) .
Ngay khi thức dậy .
Guru Yoga .

Như đă nói , trong Dzogchen mỗi sự thực hành đều được nối kết với Guru Yoga . Chúng ta có thể thức dậy vào buổi sáng trong trạng thái hiện diện và tỉnh giác . Cần hiểu rằng : Trạng thái Rig-pa khi thức dậy đồng nhất với trạng thái của Guru hay vị thầy . Và không ǵ khác hơn trạng thái bổn nguyên được gọi là Samantabhadra .

Cuối cùng tác giả xem xét sự lợi lạc ( Phan-yon ) của thực hành và những phẩm tính của hành giả . Bằng sự kết thúc bao gồm : Hồi hướng công đức và ban phước . Dù rất ngắn gọn và súc tích . Upedesa hay giáo huấn thiết yếu bí mật ; từ vị thầy sống của Đại Toàn Thiện giúp những hành giả quan tâm đến sự giải thoát .

Nên chỉ rơ : Làm thế nào để đi vào trạng thái tham thiền ; và sẽ tiến bộ thế nào trong trạng thái trong suốt cả ngày lẫn đêm . Có nghĩa , toàn thể cuộc đời của chúng ta có thể ḥa nhập vào tham thiền . Hy vọng bản dịch này tỏ ra có lợi thực tiễn cho tất cả những ai quan tâm .

Sarva Mangalam

Chú Thích
1-
Upadesa ( TT.man-ngag )  :

Nghĩa căn bản của thuật ngữ này là : “ Giáo huấn bí mật truyền khẩu ” truyền riêng từ một vị thầy qua một học tṛ . Ngày nay , những Upadesa của những vị thầy Tây Tạng thường ǵn giữ bằng h́nh thức viết tay .  Nhưng chớ tất cả những lời dạy của đức Phật nguyên đều bằng lời và chỉ được viết ra khoảng một trăm năm sau khi ngài nhập Niết Bàn .

2-
Bốn phái chính của Phật giáo Tây Tạng :

Nyingma , Sakya , Kagyud và Gelug . Nhưng cùng chủ trương về giáo thuyết nền tảng Đại Thừa . Chỉ khác biệt về ḍng và nhấn mạnh vào thực hành một số Tantra . Nyingma là phái cổ nhất giữ ǵn những truyền thống Phật giáo từ thời dịch thuật ban đầu . Thế kỷ 7 – 9 . 

Ba phái kia về sau làm mới lại hoạt động dịch thuật trong thế kỷ 11 . Ngày nay , Lama Tây Tạng vẫn liên kết với một ḍng nào đó và vẫn duy tŕ nhiều ḍng quán đảnh và lời dạy từ những vị thầy không hẳn ở trong phái .Chúng ta không nên nghĩ những phái và ḍng  truyền này chống đối lẫn nhau như những giáo phái và nhà thờ ở Tây phương .

3-
Lama ( bla-ma ) .

Tây Tạng dịch là : Guru hay vị thầy hướng dẫn tâm linh . Theo truyền thống có ba đẳng cấp Lama : 

1.
Guru của ḍng .

Những vị thầy của ḍng truyền thừa ;
Với những lời dạy và những quán đảnh mà ḿnh đă nhận .

2.
Guru ban cho sự hướng dẫn .

Những vị thầy đang có ,
Vào lúc này lúc khác trong đời hiện tại .

3.
Guru Gốc .

Vị thầy giới thiệu vào bản tánh của tâm ḿnh ,
Là người ban cho những quán đảnh quan trọng nhất ;
Và những giáo huấn bí mật ;
Cho sự phát triển tâm linh trong đời này .

Guru gốc có ba phương diện theo chiều sâu : 

1.
Guru bên ngoài .

Vị thầy hướng dẫn nhập môn và dạy dỗ .

2.
Guru bên trong .

Bổn tôn thiền định cá nhân nối kết với ngài ;
Với kỹ thuật đặc biệt trong suốt đời hiện tại .

3. 
Guru Bí Mật

Samantabhadra - Phật Bổn Nguyên .
Không ai khác hơn là bản tánh của tự tâm .

4-
Ba Thân .

Trong hệ thống kinh điển ám chỉ mục tiêu của con đường tâm linh . Không ám chỉ Nền Tảng và Con đường như trong Đại Toàn Thiện . Là mục tiêu có nghĩa : Sự biểu lộ giác ngộ hoàn toàn của một vị Phật theo ba Thân ( Kaya ) hay ba chiều kích hiện hữu của ngài  . 

a)
Pháp thân
( Dharmakaya )
Thân Thực Tại ”

Vượt khỏi ư niệm của trí thức và diễn tả bằng lời ;
Là thực tại tối hậu tràn đầy và toàn khắp .

b)
Báo thân
( Sambhogakaya )
“ Thân thụ hưởng ”

Biểu lộ ngoài thời gian và lịch sử trong Akanistha ,
B́nh diện cao nhất của hiện hữu . 
Chỉ những đại Bồ tát đă hoàn toàn thanh tịnh hóa các căn ;
Mới có thể tri giác h́nh tướng vinh quang này .

c)
Hóa thân
( Nirmanakaya )
“ Thân lưu xuất ”

Phật xuất hiện trong thời gian và lịch sử ;
Như Thích Ca Mâu Ni là một Hóa thân . 
Cũng vậy .
Thuật ngữ Hóa thân hay Tulku được áp dụng
Cho những tái hiện thân của những vị thầy tâm linh vĩ đại .

5-
Xứ sở Uddyana
( TT. U-rgyan ) .

Nơi phát nguồn của những Tantra Anuttara cũng như những Tantra của Dzogchen .  Là quê hương của vua Jah. Vị đă đầu tiên phát hiện Tantra Mahayoga và của Garab Dorje . Vị thầy nhân loại đầu tiên của Dzogchen theo truyền thống Phật giáo . Hơn nữa , Uddiyana là nơi sinh của Padmasambhava . Vị thầy đă thiết lập h́nh thức Mật thừa Phật giáo ở Tây Tạng .

6-
Sabda-mahaprasanga Tantra :

Tantra chủ yếu trong mười bảy loại Tantra của bộ Upadesa

7-
Kulayaraja Tantra :

Tantra chủ yếu trong những Tantra thuộc bộ Semde .

8-
Phật Thiền
( Dhyani Buddha )

Năm bộ Như Lai hay gia đ́nh Phật là Báo thân của Phật quả . Thuật ngữ Dhyani xuất phát từ Dhayana - “ Thiền định ” .

9-
Ohn – Ah – Hum – Swaha

Đại diện năm vị Phật thiền . H́nh dáng người nam màu trắng vô nhiễm là Vajrasattva . Ban cho Tỳ khưu ni quán đảnh b́nh tịnh hóa thân thoát khỏi mọi che ám .

10-

Tên của Tantra Dzogchen nổi tiếng . Giáo sư Norbu đang sửa soạn nghiên cứu rộng răi về bản văn này .

11-
Vajrasana
“ Ṭa kim cương ”

Dưới cội Bồ đề nơi đức Phật giác ngộ . Bây giờ là Bodh Gaya ở bang Bihar Ấn độ .  Vài dặm về phía đông là đất hỏa thiêu Kolashri . Người Tây Tạng xem là Sitavana ngày xưa .

12-

Một bản dịch bản văn này . Xem đức Vua Thông Thái và Vinh Quang . B́nh giảng của Patrul Rinpoche , trong Golden Letters . Những Chữ Vàng ( bản tiếng Việt của n.x.b. Thiện Tri Thức, 2002 ) .

13-

Địa điểm chính xác nơi này không được biết . Cũng như tiếng Sanskrit của tên này .

14-
‘Ja’-s
“ Thân Cầu Vồng ”
‘ja’-lus-pa .  

Đây là phương pháp , vào lúc chấm dứt cuộc đời . Có thể chuyển hóa thân thể vật chất thành năng lựợng thuần khiết sáng chói và biến mất như một cầu vồng giữa bầu trời và vượt thoát ṿng chuyển di của luân hồi . Và có thể tái xuất hiện trong thân ánh sáng bất cứ nơi nào muốn để cứu giúp và giáo hóa chúng sinh .  Một số Thân Cầu Vồng được xác định ở Tây tạng trong những thập niên gần đây . Trong ṿng bảy ngày thân xác vật chất biến mất chỉ để lại tóc và móng tay chân .

15-
Xem Dzogchen, the self-perfected state ,
Chogyal Namkhai Norbu – Snow Lion, 1996 .

Trở về đầu trang

Chú Thích Bản Văn Căn Cứ trên B́nh Giảng Miệng của Namkhai Norbu *
 

 

MucLuc Chu Ky Ngay va Dem

 
 

Webmaster@maytrang.org