Pháp Chân Thật - Kim Cang Thừa


GAMPOPA

OSHO

Trungpa

NAROPA

Mahamudra

Kalachakra

Kalachakra II

GiáoLư DaKini

Giáo Lư Bardo

Bồ Tát Hạnh

Tâm Ánh Sáng

TánhGiácLộToànThân

Trí Huệ ThẩmThấu

Con Mắt Băo

Sùng Kính Thầy

Các Vị Chân Sư 

Phô Diễn Tự Tánh

Nh́n Bạn Như Là

Bài Học Yêu Thương

ChuKỳ Ngày-Đêm

Mỗi Ngày

Nói Về Tỉnh Thức

Nỗi Sợ Hăi Căn Để

Những Chữ Vàng

Thực Hành Thế Nào

Tâm Vượt Khỏi
Tử Thần

Thượng Đế
Tại Đây

Giải Thoát
Tự
Nhiên

PHẬT TÂM

Hoang Sơ
Bừng Tỉnh

Dhammapada

Trung Đạo

Nhẹ Nhàng Hướng Về Sự Tỉnh Thức

Những PhụNữ
Trí Huệ

Một Phút Hài Hước

Một Phút Minh Triết

Tử Thư Tây Tạng

Đại Tâm Thức Nghĩ Ngơi

Lối vào Thực Tại

Con Đường TỉnhThức

Chod Mahamudra

Kho Tàng Tâm

Như Một Chúc Thư

Viên Ngọc Như Ư

Luyện Tâm 7 Điểm

Đại Toàn Thiện

Những lời Khai Thị

Lời chân Lư

m Trượng Phu

Sự Tỉnh Thức

Như Một Giấc Mộng

Như Trời - Như Biển

Con Đường Tỉnh Lặng

 Góp Nhặt

Ḷng Bi Bao La

Nghi thức

MOTHER THÉRÉSA

HERUKA VAJRASATTVA

Kim Cang Giới

KỳNguyệnHươngLinh

Cây Giác Ngộ *

Thực Hành
PHẬT PHÁP

 Thơ Văn Mây Trắng

PHẬT GIÁO *

Truyện Ngắn Trên Mạng *

Mục Tham Khảo


Mục Tản Mạn *


Link Liên kết
Thai Cực Quyền


Ḥm Thư Lưu Trữ


Dấu * chỉ đề tài mới & đang

 

 
  Padmasham  
 

GIÁO LƯ DAKINI
His Holiness Kusum – Lingpa
Venerable Thubten Chokyi Nyima

Ban thiền HỒNG NHẬT
Suddhapanna

 
 
 

 
 

 
 
 

Xuống thấp quan niệm để lên cao với hành vi
Cần thực hành hai điều như một
Kính lễ
Bậc Đạo Sư
Chư Phật đà
Đạt Ma
Tăng Già
Bổn Tôn
Dakini
Giáo Lư DAKINI
Những lời dạy khẩu truyền
của
Padmasambhava cho Yeshe Tsogyal
Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ
Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phước trí vô cùng thệ nguyện tu
Như Lai vô số thệ phụng sự
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành


--- Mục Lục ---

1- Lời tựa
Tiểu sử Padmashambhava
Giáo lư dẫn nhập

2- Trước hết Giáo lư lên cao với hành vi

3- Quy y

4- Bồ Đề Tâm

5- 10 nền tảng của Mật giáo

6- Vị Thầy Kim Cương & Vị Thần Yidam

7- Luyện trí Kim Cương Thừa

8- Chuỗi Lưu Ly

9- Tinh túy của Giáo lư khẩu truyền - Và Phần thuật ngữ


Bậc Đạo sư là nền tảng của phước đức
Chư vị Bổn tôn là nền tảng của thành tựu
Các Dakini là nền tảng của tạo tác


Lời tựa

Thánh Nữ Kinh hay Giáo lư Dakini là tuyển tập gồm các lời dạy của Guru Rinpoche tức Padmashambhava ; Sơ Tổ Mật giáo Tây Tạng . Đây là bộ sưu tập chọn lọc từ những Tàng Kinh ( Terma ) được cất giấu ở những hang động Tây tạng . Đức bà Yeshe Tsogyal , Công chúa xứ Kharchen . Nữ đại đệ tử của ngài đă ghi chép lại những lời khuyến tu do chính miệng ngài nói ra , nên được gọi là Giáo huấn khẩu truyền .

Theo Jamgon Kongtrul , trong tác phẩm “ Cuộc đời của một trăm vị Terton ”  . Đức bà Yeshe Tsogyal chính là một Dakini , hiện thân Phật Mẫu Lochana, người phối ngẫu của Bảo Sanh Phật ( Ratnashambhava ) , bà c̣n là một Vajra Dakini .

Bà làm thị giả cho Guru Rinpoche suốt thời gian ngài lưu lại đất nuớc Tây Tạng . Sau đó bà tu tập một cách miên mật và tinh tấn đạt đến mức thành tựu ngang tầm với Bổn sư và bà có ḷng từ bi với phước đức vô lượng .

Yeshe Tsogyal đă viết lại Giáo lư khẩu truyền bằng ngôn ngữ bí hiểm gọi  là   “ mẫu Tự Dakini ” rồi đem cất giấu như một kho tàng bí mật . Măi đến nhiều thế kỷ sau mới được những Terton tức những hành giả Mật giáo nhận được sự phú chúc để xuất lộ ( phát hiện và truyền bá ) ra ngoài .

Chính đức Rinpoche tiên định nơi xuất phát , danh tánh và thời kỳ lộ diện của các vị Terton  . Họ nhận được “ Giáo lư Dakini ” qua hiện thực hay bằng những linh ảnh , tùy theo căn cơ và tùy theo thế hệ .

Hầu như các chương trong tác phẩm đều có nội dung chính là đem lại lợi lạc cho cách tu tập của người đời sau , nên có lời ghi :  “ Nguyện Giáo lư nầy sẽ gặp tất cả những người xứng đáng được định trước trong tương lai ” .

Giáo lư Dakini căn cứ theo sự phát lộ của các Terton ở thế kỷ 12 và Nyang Ral Nyima Oser ( tác giả  ) là một trong những vị đó . Các tài liệu mà tôi sử dụng ở đây , được lưu trữ tại thư viện Hoàng gia Đan Mạch ; dưới dạng chép tay do nhà thám hiểm Trung Á mang từ một tu viện Mông Cổ cách đây nhiều thập niên .

Vào năm 1976 khi Dilgo Khyentse viếng thăm thư viện , ngài yêu cầu được xem tất cả những thủ bản nguyên gốc và quyết định sao chụp lại sáu phẩm mà thời đó Ấn Độ cho in lại dưới h́nh thức nguyên bản .

Khi tôi tŕnh quyển sách nầy với Tulku Urgyen Rinpoche , Ngài tỏ ra rất thích thú và khuyến khích tôi soạn bản dịch Anh ngữ . Ngài c̣n cho biết có một quyển sách tương tự viết về những Terma của Nyang Ral Nyima Oser - “ Giáo lư Trực Truyền Của Nyang ” .

Kongtrul , tác giả của quyển Padmashambhava Sử Lược , cho rằng quyển sách nầy có tầm quan trọng ngang hàng với phẩm thứ 60 của bộ Rinchen Terdzo . So sánh cả hai thủ bản , tôi nhận thấy cả hai đều chứa đựng những lời dạy vô giá của Padmasambhava . Tuy nhiên có những chỗ không đồng , chứng tỏ những giáo lư thuộc hai nguồn khác nhau . Rơ ràng  Jamgon Kongtrul soạn bộ Rinchen Terdzo th́ chưa có bộ Jomo Shulen .

Đại sư Nyang Ral Nyima Oser sống cách đây tám trăm năm , nên mỗi lần các thủ bản của ngài được các người đời sau chép lại đều có những sai sót về lỗi chính tả hoặc một vài khiếm khuyết . Tuy nhiên hai bản nầy và không có những lỗi giống nhau .

V́ vậy , tôi dựa vào tập Terma thứ ba của Đại sư Sangye Lingpa thuộc thế kỷ 14 . Cách hành văn trong tập hầu như giống hệt với giọng văn trong quyển Terma của Nyang Ral Nyima Oser . Sự trùng lập trong cách hành văn của hai tập nói trên có thể lư giải . V́ trong tiền kiếp , hai vị Thầy đều cùng ở trong một Pháp hội khi Guru Rinpoche truyền trao giáo lư .

Nyang Ral Nyima Oser chính là Đức vua Trisong Deutsen tái sinh và Sangye Lingpa là con trai thứ nhà vua , tức hoàng tử Murub Tseypo . Ba tuyển tập nầy gom lại có thể soạn thành bốn quyển tiếng Anh . V́ vậy tôi tuyển chọn những Giáo lư nào được xem là thích hợp nhất với thời đại ngày nay để làm thành một quyển duy nhất .

Trở về đầu trang
---------------------------------------
Sau đây là
Trích dẫn phần tóm tắt tiểu sử của
Đại sư Nyang Ral Nyima Oser
( 1124 - 1192 )
Từ tác phẩm
Cuộc Đời Của Một Trăm Vị Terton

Theo phán truyền của Guru Rinpoche , Nyang Ral được coi là vị đầu tiên trong năm vị vua Terton được Bồ Tát phú chúc . Và là hóa thân của vua Trisong Deutsen ; người có sáng kiến thỉnh cầu Padmashambhva đến Tây Tạng . Ngài được mệnh danh là Tsangpa Lha Metok tức hoa thiêng của trời Phạm Thiên được sinh ra ở Lhodrak nhằm năm Rồng Gổ và là con của Lama Nyangton Chokyi Khorlo thuộc phái Nyingma ( mũ đỏ )

Năm lên tám tuổi ngài trông thấy linh ảnh đức Phật Thích Ca , Bồ tát Quán Thế Âm và Padmashambhava trong suốt một tháng liền . Một buổi tối ngài trông thấy linh ảnh của Padmashambhava cỡi con ngựa trắng được nâng bởi bốn tầng Dakini ( thánh nữ ) , và được ban cho bốn đại thần lực bằng cách uống cam lồ đựng trong b́nh bát của Bồ tát . Khi được truyền thần lực , Ngài cảm thấy bầu trời mở tung , mặt đất , núi đồi rung chuyển và hành động một cách kỳ lạ đến nỗi mọi người cho rằng ngài đă phát rồ .

Sau đó, Ngài được cha truyền cho năng lực của Hayagriva . Sau khi nhập thất tu tập , Ngài thấy linh ảnh của Hayagriva và con dao găm của ngài phát ra tiếng ngựa hí và ngài lưu lại dấu in bàn tay và bàn chân trên đá cứng .

Thực hiện lời tiên tri của các Dakini ( thánh nữ ) , Ngài đến Mawo Choqi Draktsa , tại đây được các Dakini Trí huệ ban cho danh hiệu là Nyingma Oser . Từ đó ngài nổi tiếng với danh hiệu nầy .

Đích thân Guru Rinpoche xuất hiện trao bản danh sách các Terma và dạy ngài có bổn phận phải công bố . Tuân lời , ngài làm xuất lộ nhiều quyển giáo lư của Terma . Trong số đó , quyển được biết tới nhiều nhất là Kagye Desheg DuPa gồm các giáo lư tập trung vào tám pháp thiền định của Heruka Sadhana , và quyển Sanlingma ( tiểu sử của Guru Rinpoche ) .

Về sau , Ngài kết hôn với Jobum ( kiếp sau của Yeshe Tsogyal ) và có hai con trai : Drogon Namkha O và Namkha Pal , cả hai đều được truyền thừa . Trong suốt cuộc đời , ngài làm hai công việc ngang nhau là thực hành ẩn tu và độ người . Sự nghiệp hoằng dương chánh pháp của ngài lan rộng tới khắp các cơi thế gian và có ảnh hưởng lớn đến sự duy tŕ giáo pháp . Ngài qua đời vào năm con chuột Gỗ , ở tuổi 69 với sự xuất hiện của nhiều điềm kỳ diệu .

“ Tôi , Jamgon Kongtrul , đích thân sưu tập tất cả những bản chép về giáo lư Terma của Nyang Ral , cho khắc bản gỗ để in chín quyển của bộ Kagye Desheg Dupa và hành theo pháp của bộ nầy nhiều lần . Tôi cũng làm được một ít công quả nho nhỏ cho giáo lư nầy như vậy ” .

Câu chuyện sau đây mô tả việc Nyima Oser nhận sự khải huyền về những giáo lư ẩn tàng ( Terma ) tôi dùng để soạn quyển giáo lư Dakini . Phần nầy trích từ phẩm Gương Sáng trong quyển thứ nh́ của bộ Kagye Desheg Dupa .

Sau đó , tôi nhập thất hành thiền ở Pama Gong trong hang Lưu Ly . Vào một buổi  tối . Người đàn bà da trắng xuất hiện tự xưng ḿnh là Yeshe Tsogyal ; mặc áo dài màu xanh , bên ngoài khoác chiếc áo lụa trắng và phía trước mang một tấm tạp đề . Bà hỏi :  “ Thiền giả , người muốn cầu điều ǵ ? ” .

Tôi trả lời : “ Tôi chỉ muốn giáo pháp ” .

“ Thế th́ ta sẽ ban cho ngươi Giáo pháp ” . Đoạn bà trao cho tôi một cái hộp đựng những lời tiên tri của các Dakini và 108 câu vấn đáp . Bà nói : “ Con hăy đi cùng ta tới nghĩa địa Sitavana . Ở đó , ngài Acharga Padma và tám Đại Thành Tựu Giả cùng vô số các đại thiện tri thức khác cũng đang tổ chức một Pháp hội long trọng , c̣n các Dakini chúng ta th́ đang sửa soạn một đại tiệc , vậy hăy đi đến đó ” .

Nơi đến là tmột nghĩa địa rộng mênh mông . Thật là một nơi ghê rợn , khiến cho kẻ yếu bóng vía hay người chưa đủ niềm tin không thể nào dám đặt chân tới . Ngồi giữa chiếc ngai lớn làm bằng ngọc là một đạo sư có nước da màu nâu nhạt . Ông cất tiếng nói : “ Có phải Tsangpa Lhai Metok , con trai ta đó không ? . Lang thang trong luân hồi đă làm con mệt mơi chưa ? ” .

Ông bảo tôi ngồi trên một đống xương người . Phía trước ông một Mandala lớn với vô số h́nh trang trí được vây quanh bởi những tia sáng đan vào nhau như đan rổ . Ở tám hướng xung quanh là tám Đại Thành Tựu Giả của Ấn Độ và Tây Tạng ngồi với nét mặt tươi cười . Tôi thấy ḷng ḿnh tràng ngập niềm vui . Người đàn bà trẻ lúc năy quay lại hỏi :

“ Con muốn dự tiệc hay quay bánh xe pháp ? ”  .
Tôi trả lời : “ Xin quay bánh xe pháp cho con ” .

Lập tức , tôi được truyền những điều sơ khởi để đi vào Đại Mandala . Sau đó , tôi đi theo tám hướng của Mandala , mỗi nơi một vị thầy truyền tâm ấn về một pháp tu và ban cho tôi quyền truyền thừa .

Đạo sư ngồi giữa , tự giới thiệu là Padmashambhava , cũng được gọi là Padmakara ban cho tôi tâm ấn “ Tập hội các đấng Thiện thệ Hiền lành và Phẫn nộ ” . Ngài cho tôi kinh sách và dạy tôi cách tụng đọc và xưng tán . Sau đó các vị Đại Thánh truyền cho tôi trí lực nhớ hiểu , biện tài vô ngại , năng lực thiền định , năng lực nhiếp thọ chúng sinh , năng lực hàng phục Đại Kim Cương Vương , Năng Lực Hiển Lộ Đại Viên Cảnh Trí ( Dzogchen ) .

Cuối cùng , tôi được trao một cái vỏ ốc tù và màu trắng và được lệnh về nhà . Ngay lúc đó , toàn cảnh tượng trước mắt tôi như một làn sương tan dần và khi tỉnh dậy , tôi thấy ḿnh đă trở về am thất .

Quyển Terma thứ nh́ dùng đối chiếu để sửa lỗi chính tả và bổ túc những thiếu sót khi soạn quyển “ Giáo lư Dakini ”  , được xuất lộ bởi Sangye Linga ( 1340 – 1396 ) . Sangye Linga sinh ở tỉnh Kongpo đông nam Tây Tạng , nhằm vào năm con rồng sắt và cũng là năm Rolpey đệ tứ ra đời . Sangye Linga được coi là hóa thân của Yeshe Rolpa Tsal , con trai thứ nh́ của vua Trisong Deutsen .

Năm 1364 , Ngài xuất lộ giáo lư của Lama Gongdue và đó là xuất lộ quan trọng nhất của ngài . Ngài cũng được coi là một trong năm vị vua Terton . Cách đây không lâu họ đă tái sinh với tên là Jamyang Khyentse Wangpo Terchen Chokgyur Lingpa .

Sau cùng quyển “ Giáo lư Dakini ” được kết thúc bằng một chương của Terton - Guru Dorje Lingpa , bao gồm những lời cuối cùng của Padmashambhava . Dorje Lingpa ( 1346 – 1405 ) là một trong những vị vua Terton đă xuất lộ một kho tàng giáo lư được cất giữ bí mật ở Tây Tạng .

Tôi xin gởi lời cảm tạ đến tất cả những người đă góp phần cho việc soạn thảo cuốn sách nầy , đặc biệt là Ngài Dilgo Khyentse và Tulku Urgyen Rinpoche về những lời hướng dẫn và ban phước của hai vị .

Chân thành cảm ơn Marcia Binder Schmidt , Mim CoultockPhinjo Sherpa giúp tôi kiểm lại bản dịch tiếng Anh và các phần kỹ thuật . Quyển nầy chứa đựng một số tinh túy Giáo lư khẩu truyền của Padmashamhava về giáo pháp đại cương và cách làm thế nào để tự tu tập một cách thực tiễn .

Tôi lấy làm hoan hỷ , khi nhận thấy những lời dạy quư báu đă được dịch sang Anh ngữ . Dù bản dịch của chúng tôi chưa thể hoàn hảo về mặt nghiên cứu cũng như văn chương . Tôi vẫn tin rằng với sự gia hộ của các đại đạo sư , cùng sự hỷ xả và tâm thành của người đọc , sẽ bù đắp cho những khiếm khuyết .

Những ai được đọc hay nghe người khác đọc quyển Giáo Lư Dakini tức đang ở trong sự hiện diện của Guru Rinpoche . Những lời dạy nầy đă làm tôi xúc động , nay tôi nguyện những lời dạy của ngài cũng gây xúc động trong tâm của nhiều người khác và là nguồn cảm hứng miên viễn cho mọi người .

Erik Pema Kunsan
Hang Asura 1989 ,

Trở về đầu trang
--------------------------------------------
Tiểu sử
Padmashambhava
của
Jamgon Kongtrul đệ nhất

Phần tiểu sử tóm lượcvề sự hiện diện của Padmashambhava  cũng là Guru Rinpoche hay Padmakara . Được trích từ tác phẩm “ Chuỗi Lam Ngọc Quư ”  . Một bộ sưu tập nói về cuộc đời một trăm lẻ tám vị Terton , được viết bởi Jamgon Kongtrul đệ nhất , thuộc quyển một của Rinchen Terdzo .

Với Giáo lư Kim Cương Thừa , Padmakara có những ảnh hưởng rất sâu rộng đối với nhiều người , đặc biệt là qua các Tàng Kinh ( Terma – Giáo lư ẩn tàng bí mật ) . Bậc thầy vĩ đại nầy không chỉ là một đạo sư ; mà c̣n là hóa thân hai vị Phật Thích Ca và Di Đà xuất hiện để thuần phục muôn loài trong thế giới . Ngay cả chư Đạo sư lớn cũng không thể diễn giải trọn vẹn mật hạnh của Ngài . Nên tôi dám mạn phép kể lại vắn tắt như sau :

Trong cơi pháp thân Kim Cương Quang Minh Thanh Tịnh ( Dharmakada Realm of the Luminous Vajra Essence ) , Guru Rinpoche hốt nhiên giác ngộ ngay từ thời vô thủy như trong cơi an tĩnh thiên nhiên giải thoát . Ngài được coi là đấng Hộ Tŕ Nguyên Thủy Bất Động Quang Phật ( Unchangin Light ) .

Trong cơi báo thân tự hiển lộ Sấm Trống Hoàn Hảo , ngài hiển lộ Vô Tận Trí đồng trí tuệ ngũ bộ phái Vô Tận Đại Hải Phật và năm phẩm tánh giác ngộ căn bản .

Ngài hiện ra vô số các pháp thân ở các cơi thuộc ngũ bộ Phật và ở phân nữa các cơi ứng thân của trời Đại Phạm Thiên . Ngài xuất hiện trước các Thập Địa Bồ tát ; v́ đây là những đám mây biểu hiện trí tuệ như Vô Tận Trang Nghiêm Pháp Luân nên được gọi là Padmashambava .

Bằng trí tuệ thần thông ; ngài hiện ra vô số thân vi diệu trong mười phương thế giới để hóa độ chúng sinh . Đặc biệt ở cơi Ta Bà , ngài soi sáng năm mươi thế giới với ngọn đèn giáo lư của Hiển giáo và Mật giáo . Và để hóa độ chúng sinh trong các cảnh giới Ngài xuất hiện trong tám hóa thân khác nhau .

Dakini Yeshe Tsogyal đă thấy linh ảnh của ngài , gọi là Vô Tận Kim Cương Hải ở phía Đông . Mỗi lỗ chân lông trên thân ngài chứa một tỷ cơi . Trong mỗi cơi có một tỷ thế giới . Trong mỗi thế giới có một tỷ Guru Rinpoche . Mỗi vị hiện một tỷ hóa thân . Mỗi hóa thân nầy độ một tỷ đệ tử . Đức Bà Yeshe Tsogyal c̣n thấy linh ảnh nầy hiển lộ mỗi phương khác nhau và ở trung ương .

Guru Rinpoche ứng hiện ở thế giới này là để thuần phục chúng sinh , nhưng tùy theo năng lực và căn cơ của từng người ; họ sẽ cảm nhận bằng những cách khác nhau . Quyển Lịch Sử Khẩu Truyền Kilaya và đa số các tài liệu Ấn Độ đều nói ngài sinh ra ở Uddiyana và là một vương tôn công tử .

Trong các giáo lư ẩn tàng ( Terma ) phần lớn lại kể rằng : Ngài sinh ra với phương cách kỳ diệu . Một số kinh văn nói : Ngài xuất hiện từ một tia chớp trên đỉnh núi Malaya . Mỗi câu chuyện huyền diệu như thế đều khác nhau ở nhiều điểm và đây là đề tài hoàn toàn nằm ngoài khả năng suy lường của sự hiểu biết phàm phu .

Bây giờ tôi mạn phép được giới hạn phần tŕnh bày bằng một phần nhỏ như hạt cát về cuộc đời Guru Rinpoche và sự sinh ra kỳ diệu của Ngài được ghi lại trong các Giáo lư cùa các Terma .

Ở xứ Uddiyana , được coi là tây bắc Ấn Độ , cạnh A phú Hăn phía tây Bồ Đề Đạo Tràng , có ḥn đảo ở hồ Danakosha . Trong đó xuất hiện một đóa sen nhiều màu do sự gia hộ của chư Phật . Amitabha ( biểu tượng trí tuệ ) phóng ra từ tim viên Kim cương sắc vàng có khắc chữ HRIH . Trong nhụy đóa sen , kỳ diệu thay xuất hiệ một em bé tám tuổi tay cầm viên Kim cương và một hoa sen và em bé dạy Giáo pháp thậm thâm cho chư thiên và các tiên nữ trên đảo .

Lúc đó , quốc vương xứ Uddiyana Indrabhodhi không có con trai . Ngài đă lấy hết kho tàng ra để cúng dường Tam Bảo và bố thí cho kẻ nghèo khó để cầu tự . Sau cùng khởi hành đến hồ Danakosha cùng Tể tướng Krishnadhara .

Trên đường về , cả hai gặp được em bé kỳ diệu . Nhà vua xem em bé là sự ứng nghiệm từ việc cầu tự của ḿnh , nên đem em bé về hoàng cung và đặt tên cho em là Padmakara  ( người sinh ra từ hoa sen ) . Padmakara được đặt ngồi trên một cái ngai bằng ngọc và nhiều người đến dâng quà biếu .

Lớn lên Hoàng tử đă làm cho nhiều người cùng trưởng thành bằng những tṛ chơi và các môn thể thao trẻ trung . Sau đó ngài cưới Prabhadhri làm vợ và cai trị vương quốc Uddiyana theo tinh thần của giáo pháp .

Ngài nhận thấy không thể đem lại đại lợi lạc cho chúng sinh với cương vị vua của một xứ sở . Ngài xin thoái vị nhưng vua cha không chấp thuận . V́ vậy , trong một tṛ chơi ngài vờ đánh rơi cây chỉa ba làm chết con trai của một vị quan . V́ thế bị đày tới một nghĩa địa .

Sau đó , ngài sống ở nhiều nơi như : vườn Thanh Viên , rừng Lạc Lâm và Sosaling để tu tập theo hạnh Du Già . Trong thời gian nầy , ngài được gia tŕ lực bởi hai Dakini là : Hàng Phục Ma Vương và Bảo Tồn An Lạc . Khi điều khiển được tất cả Dakini của các nghĩa địa , Ngài được gọi là Shantarakshita .

Padmakara trở về Uddiyana trú trên ḥn đảo giữa hồ và ngài học Mantra và ngôn ngữ biểu tượng của các Dakini dùng để điều khiển các Thánh nữ trên đảo . Sau đó ngài tu tập trong rừng sâu và được ban phước với linh ảnh Vajra Yogini .

Ngài buộc tất cả Long Vuơng ở các hồ cũng như ở các tinh linh phát nguyện hộ tŕ chánh Pháp và được các Dakas và Dakinis ban cho quyền năng siêu nhiên . V́ vậy , Ngài nổi tiếng với danh hiệu Dorje Drakpo Tsal  ( dạng thức phẫn nộ Vajra ) .

Sau đó đến ngai Kim Cương ở Bồ Đề Đạo Tràng . Tại đây , ngài thi triển nhiều rất phép lạ . Người ta hỏi Ngài là ai , và ngài trả lời ḿnh là một vị Phật tự xuất hiện . Nhưng không ai tin và c̣n phỉ báng ngài thậm tệ .

Ngài hận ra có nhiều lư do cần phải theo học một vị Thầy . Ngài đi đến Sahor thụ pháp với Prabhahasti và được đặt tên là Shakya Senge . Ở đây ngài được truyền môn Du Già Mật Pháp cả thảy mười tám lần và thấy linh ảnh của các vị thần .

Sau đó ngài đến chỗ nữ đạo sĩ Kungamo , hóa thân của Dakini Trí tuệ Guhyajnana . Ngài xin được ban cho pháp lực và bà biến Ngài thành chữ HUM nuốt vào bụng và nhả ra từ hoa sen của bà . Trong thân bà , ngài được ban trọn vẹn các quyền năng trong , ngoài , bí mật và được thanh lọc ba nghiệp ( thân , khẩu  , ư ) .

Kế đó , ngài gặp tám vị thầy vĩ đại nhận tám phần Nghi Quỹ . Ngài nhận pháp Maya Jala từ Đại sư Buddha Guhya và pháp Dzogchen ( Đại Giác Ngộ hay Đại Hoàn Thiện hay Đại Trí Tuệ Viên Măn ) từ Shri Singha .

Như vậy , ngài thông thạo tất cả kinh văn của Hiển giáo và Mật giáo cũng như những môn khoa học từ các vị thầy thông thái Ấn Độ . Ngài rất thông tuệ , nên chỉ học qua một lần là nhớ hiểu . Ngài sẵn có linh ảnh tất cả các vị thần không cần phải tu tập . Khi ấy ngài được gọi là Loden Choksey , đạt tới sự toàn thiện của cấp Vidyadhara trưởng thành .

Tại Sahor , ngài thu nhận Madarara một Dakini thành tựu . Con gái của vua Vihardhara làm thị giả . Sau đó họ tu tập ba tháng ở hang Maratika . Amitabha hiện ra truyền pháp lực và luôn luôn ở bên họ để hộ tŕ . Đức Phật c̣n ban cho họ một tỷ các môn thuộc Mật điển ( Tantra ) về phép trường sinh . Họ thành tựu cấp Vidyadhara bậc Thầy . Sau khi đạt được thân Kim Cương Bất Hoại , hai vị trở về hoằng dương Chánh Pháp ở vương quốc Sahor .

Khi đang khất thực , họ bị bắt và xử thiêu sống . Họ dùng nguyện lực biến giàn hỏa thành hồ nước và cả hai ngự trên một ṭa sen ở giữa hồ . Mọi người đều kinh hăi , và hoàn toàn tín phục phát tâm quy y tu tập giáo pháp và được hai vị đưa vào trạng thái an lạc giải thoát .

Kế đó , Padmakara về Uddiyana để hóa độ dân chúng . Một lần nữa , trong khi khất thực ngài có người nhận diện và họ bị xử thiêu trên một giàn hỏa lớn bằng gỗ trầm hương . Ngài cùng vợ xuất hiện an toàn trên một hoa sen giữa hồ , nơi cổ đeo một chuỗi sọ người tượng trưng cho sự độ thoát chúng hữu t́nh .

V́ phép lạ nầy , ngài được gọi là Padma Thotreng Tsal . Ngài lưu lại Uddiyana mười ba năm , là Quốc sư dạy pháp cho cả vương quốc . Trong thời kỳ nầy , ngài truyền cho Kadue Chokyl Gyamtso môn Biến Pháp dung chứa tất cả Giáo lư . Qua dó , quốc vương cùng hoàng hậu và những người có cơ duyên nghe pháp tu tập đều đạt quả vị tối thượng . Do vậy , ngài được gọi là Padma Raja .

Theo lời tiên tri trong kinh Cảm Thức Huyền Diệu ( Magical Perception ) , Padmakara hóa thân thành tu sĩ để độ vua Ashoka chỉ trong một đêm . Ngài dựng trong thế gian nầy một triệu bảo tháp chứa xá lợi của đấng Như Lai .

Ngài thu phục nhiều vị thầy ngoại đạo và sau đó bị một vị vua ám hại bằng thuốc độc nhưng ngài thoát hiểm . Có lần bị ném xuống sông , ngài vận thần lực làm nước chảy ngược ḍng và nhảy múa giữa không trung . Do đó được gọi là Powerful Garuda .

Padmakara cũng hóa thân thành Acharya Padma Vajra - Vị thầy xuất lộ Mật điển Hevajra Tantra và nhiều Thánh tăng khác như Sahara , Dombi , Heruka , Virupa , Kalacharya . Ngài thường tu tập ở những mộ địa lớn và dạy pháp bí mật cho các Dakinis , nhiếp phục cả nội ma lẫn ngoại ma và cho chúng làm hộ pháp . Lúc đó , Ngài có tên là Nyima Oser .

Trong cuộc tranh biện về giáo lư ở Bồ đề đạo tràng , Padmakara đă nhận lời thách đấu với năm trăm vị Thầy ngoại đạo . Ngài bẻ gảy mọi lập luận của các phái ngoại đạo và biến chiến thắng một cách dũng mănh .

Một số người trong bọn họ thấy không thể địch lại , bằng lư lẽ quay ra dùng tà thuật để hại ngài . Nhưng Padmakara đánh tan bọn họ bằng thần chú khủng khiếp của Hàng Phục Ma Vương Dakini .

Ngài cảm hóa tất cả bọn họ và ngọn cờ giáo pháp tung bay khắp nơi nơi . Lúc đó ngài được gọi là Senge Dradrok . Đă diệt tận các lậu hoặc vi tế , ngài đạt quả vị Thành Tựu Viên Măn Tối Thượng .

Đến hang Yanglesho ở giữa Ấn Độ và Nepal , ngài gặp Shakya Devi , Công chúa xứ Nepal và nhận nàng làm vợ . Trong khi ngài đang tu tập phép thiền định Vishudha Heruka , ba đại ác ma ở địa phương dùng pháp thuật ngăn không cho các Long vương làm mưa gây hạn hán , nạn đói , dịch bệnh trong ba năm .

Không thể khuất phục được chúng , Padmakara sai người đi Ấn Độ để xin sự trợ lực từ các vị Thầy của ngài . Sau khi hai người của mgài mang kinh văn Kilaya về , các chướng ngại được hóa giải ngay lập tức . Kế đó , Padmakara cùng vợ đạt tám đại thần thông cấp Vidyadhara Đại Ấn .

Guru Rinpoche nhận thấy hành pháp Vishuddha Heruka mang lại thành tựu lớn . Nhưng vẫn như khách thương thường gặp nhiều trở ngại . C̣n Kilaya th́ giống như sự hộ tống không thể thiếu . V́ vậy , Guru Rinpoche soạn nhiều nghi quỹ phối hợp giữa hai pháp Heruka . Tại đây , Ngài cũng buộc mười sáu Hộ pháp phát nguyện giữ ǵn pháp Vajra Kilaya .

Padmakara lần lượt truyền bá giáo pháp ở các vương quốc cổ như Hurmudzu , ở gần Sikojhara , Dharmakosha , Rugma , Tirahuti , Kamarupa , Kancha và rất nhiều xứ khác . Kinh văn không nói rơ ngài có đến xứ Droding hay không . Nhưng các giáo lư Kim Cương thừa có mặt ở đó và vẫn c̣n tồn tại đến ngày nay . Theo truyền thuyết , Padmakara sống đến 3.600 năm tại Ấn Độ . Nhưng các học giả cho rằng chỉ có thể chấp nhận phân nữa thời gian ấy , v́ đó là con số tượng trưng .

Để hóa độ dân chúng ở Mông Cổ và Trung Hoa , Padmakara hóa thân thành vua Ngonshe Chen và đạo sĩ Tobden . Ngài c̣n xuất hiện ở sơn động như một thần đồng tên là Tavi Hricha dạy nhiều môn đồ đạt sắc cầu vồng .

Padmakara đă hoạt động như vậy để đưa người ta đi theo con đường giải thoát . Bằng nhiều phương tiện , xuất hiện ở nhiều nơi trong nhiều h́nh dạng , nói nhiều thứ tiếng Padmakara đă nỗ lực truyền bá Giáo pháp . V́ vậy công đức của ngài thật là bất khả thuyết .

Đến đây , có thể chúng ta nên t́m hiểu Padmakara đă đến đất nước Tây Tạng như thế nào . Khi vua Trisong Deutsen , hóa thân của Văn Thù Bồ tát được 20 tuổi , ngài khao khát giáo pháp thiêng liêng được quảng bá sâu rộng trong quần chúng nhân dân Tây Tạng . Nên cho sứ giả sang Ấn Độ thỉnh Khenpo dạy về Thập Thiện Giới và Thập Nhị Nhân Duyên . Một năm sau đó , việc đặt móng cho Đại tu viện đă hoàn tất nhưng các quủ thần ở Tây Tạng gây chướng ngại cản trở việc xây chùa .

Theo lời khuyên của ngài Khenpo , nhà vua sai năm người tức tốc đi mời vị thầy vĩ đại Padmakara . Việc nầy đă được Padmakara tiên liệu và đă khởi hành đi Tây Tạng đang đến Mangyul , một vùng giữa Tây Tạng Nepal .

Trong hành tŕnh tới miền trung Tây Tạng , ngài băng qua Ngari , Tsang , Dokham và dùng thần túc đi thăm các nơi trong vùng . Đi đến đâu , ngài đều thu phục quỷ thần sở tại đến đó . Ngài c̣n nhiếp phục 12 nữ thần Tenma , 13 Gurlha , 21 Geuyen và vô số các cường ma khác .

Sau cùng , ngài hội kiến với vua Tây Tạng ở Đá Đỏ trong rừng Tamarisk . Kế đó , lên đỉnh núi Hepori để hàng phục quỷ thần . Ngài đặt nền móng cho ctu viện Samye và đứng ra trông coi cho đến khi chùa được xây xong .

Ngài huy động tất cả quỷ thần mà trước đây đă cản trở việc xây tu viện , bắt chúng phải làm việc . Trong năm năm , ngài kiến tạo xong một quần thể kiến trúc gồm Vinh Quang , Bất Biến , Thành Tựu và ba tu viện khác cho những Hoàng hậu .

Những tu viện nầy được xây dựng giống như h́nh thể Tu Di sơn , gồm tám tiểu địa lục , núi Thiết Vi và nhật nguyệt bao quanh . Trong buổi lễ khánh thành có năm điềm lành kỳ diệu xuất hiện .

Để thiết lập Giáo pháp , nhà vua cho tuyển nhiều thanh thiếu niên và đào tạo họ thành những dịch giả . Mặc khác nhà vua cho mời các Pháp sư từ Ấn Độ . Ngài cho phép Khenpo tổ chức lễ quy y cho bảy tu sĩ , rồi dần dần thành lập Tăng đoàn .

Khenpo , Padmakara , các học giả Vairochana. Kawa Paltseg , Chog Ro Lui Gyaltsen và rất nhiều vị khác đă cống hiến cho đất nước Tây Tạng một kho tàng kinh điển Mật giáo lẫn Hiển giáo cùng những bản văn đính kèm .

Vairochana Namkhai Nyingpo được gởi đi Ấn Độ để tu học . Ở đó Vairochana thụ pháp với Sri Singhar , học về Dzogchen , c̣n Namkhai Nyingpo học giáo lư Vishuddha Heruka với vị Thầy vĩ đại Hungkara . Sau đó cả hai đều chứng đắc và trở về Tây Tạng hoằng dương chánh pháp .

Vua Trisong Deutsen phát nguyện học pháp với Ngài . V́ vậy , tại thiền thất Chimphu ở chùa Samye , Guru Rinpoche lập đàn pháp truyền tám phép thiền định Heruka . Ngài làm lễ nhập môn cho nhà vua  và tám người khác. Cả chín người nầy đều tu tập đến đắc thông . Ngài c̣n truyền vô số pháp thậm thâm vi diệu liên quan đến ba phần Nội điển của Mật tông cho những người có túc duyên, đứng đầu là nhà vua, các hoàng tử và 25 đệ tử khác ở Lhodrak , Tidro . . .

Guru Rinpoche lưu lại Tây Tạng 55 năm , 6 thánh ( 48 năm khi nhà vua c̣n tại thế và 7 năm , 6 tháng sau khi vua băng hà ) . Khi ngài đặt chân đến Tây Tạng , nhà vua chỉ mới được 21 tuổi ( năm 810 sau công nguyên ) và 48 năm sau vua mất , hưởng thọ 69 tuổi .

Sau khi vua Trisong Deutsen qua đời . Ngài ở lại thêm ít năm rồi đi đến xứ của quỷ La sát ( Raksa ) . Viếng thăm 20 ngọn tuyết sơn ở Ngari , 21 tu viện ở miền Trung Tây Tạng và Tsang , 25 nơi khác ở Dokham , 3 thung lũng hẻo lánh và nhiều nơi khác . Mỗi nơi đều được Ngài ban phước để trở thành chốn đạo tràng thanh tịnh trang nghiêm .

Biết trước về đời sau sẽ có hậu duệ của nhà vua t́m cách hủy diệt Phật giáo Tây Tạng nên ngài cho những lời đoán trước những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai . Để đối phó với Pháp nạn . Ngài bàn bạc với nhà vua và các đệ tử thân cận kế hoạch chôn dấu vô số giáo lư Terma , chủ yếu tại các kho tàng cá nhân của nhà vua , 5 kho đại trí và 25 kho vi  diệu .

Mục đích của việc cất dấu những Terma  để tránh  giáo lư bí mật bị hủy diệt . Nhất là để tránh sự cải biên sai lạc của giới trí thức đời sau và để duy tŕ phước đức cho các đệ tử . Padmakara tiên tri thời kỳ xuất lộ cho mỗi kho giáo lư ẩn tàng và những ai được phép xuất lộ và thủ đắc chúng .

Ngài c̣n hóa hiện thành những tướng dữ tợn ở 13 chỗ gọi là Hổ huyệt để thu phục các tinh linh . Buộc chúng phát nguyện hộ tŕ giáo pháp và giao cho chúng nhiệm vụ bảo vệ các kho tàng Terma . Lúc đó , ngài được gọi là Dorje Drollo .

Để gây tín tâm cho người đời sau , ngài để lại các thánh tích ở Bumthang , như dấu tay ở Namtso Chugmo và dấu chân ở Paro Drakar cũng như ở vô số những nơi tu tập khác . Sau khi vua Trisong Deutsen qua đời , ngài lập Mutig Tsenpo lên ngôi , trao pháp thượng thừa cho đệ nhị hoàng tử Gyalsey Lhaje và tiên đoán rằng trong 13 kiếp về sau , hoàng tử nầy sẽ là người được hân hạnh khai mở kho tàng của pháp bí mật để làm lợi lạc quần sinh .

Cho đến nay , không thể biết đích xác có bao nhiêu đệ tử ở Tây Tạng được Ngài đích thân truyền pháp . Nhưng những người nổi tiếng nhất là 20 vị đầu tiên , 25 vị kế đó , 17 vị cuối cùng và 21 người nữa . . .

Có 80 đệ tử chứng kiến sắc thân cầu vồng của ngài ở Yerpa , 108 thiền giả ở Chuwori , 30 hành giả Mật tông ở Yangzong và 55 người thành tựu ở Sheldrag . Về nữ đệ tử , có 25 Dakini và Yogini ( Du Già Nữ ) . Nhiều vị đệ tử thân cận nầy có ḍng truyền thừa kế tục cho đến ngày nay .

Khi Ngài sắp ra đi đến xứ của quỷ La sát ( Raksa ) ở phía Tây nam , vua và triều đ́nh cùng các đệ tử can ngăn nhưng không được . Ngài khuyến dạy thêm cho mọi người , rồi khởi hành từ đèo Gunthang . Ngài cưỡi ngựa hay sư tử có các chư thiên đi theo hộ tống và cúng dường .

Tại đỉnh núi Màu Đồng Vinh Quang ở lục địa Chamara , ngài giải thoát cho vua La sát ( Raksa ) xứ Thoreng và khoác h́nh dạng ông nầy . Sau đó , dùng pháp thuật tạo ra cung điện Liên Hoa Quang với nhiều đồ trang hoàng kỳ diệu không thể tưởng tượng . Ngài phân thân ngồi trên tám ḥn đảo nhỏ ở xung quanh . Mỗi phân thân dạy tám nghi quỷ Heruka .

Hiện tại Ngài ngự ở cơi Vidyadhara trong h́nh dạng Kim Cương Tŕ ( Vajradhara ) không biến hoại với thời gian . Ngày nào c̣n có luân hồi , ngày ấy Padmasambhava c̣n trụ ở cảnh giới để lợi ích chúng sinh .

V́ thương sót chúng sinh , ngài ban ra các hóa thân ứng hiện khắp nơi để hóa độ . Ngay cả sau khi giáo pháp bị hư hoại hay suy tàn . Ngài cũng sẽ xuất hiện giữa các hành giả Mật giáo . Đồng thời sẽ có nhiều đệ tử đầy đủ cơ duyên tu tập đắc sắc thân cầu vồng .

Và trong đời vị lai , khi Maitreya xuất hiện trên thế gian nầy Padmakara sẽ tái sinh trong cơi người , hiệu là Drowa Kandul để trao truyền Giáo lư Kim Cương Thừa cho tất cả những ai xứng đáng .

Ghi chú  :
Jamgon Kongtrul là kiếp sau của dịch giả Vairochana .
Ngài đă thấy nhiều linh ảnh của Padmasambhava ;
và cũng là người xuất lộ giáo lư ẩn tàng .

Trở về đầu trang
------------------------------------------

Dẫn Nhập
Giáo Lư

Trong khoảng thời gian thế giới nầy c̣n tồn tại , sẽ có một ngàn vị Phật ra đời . Mỗi vị Phật sẽ có một ngàn Guru Rinpoche đến để trợ thủ các ngài . Trong thời đại Phật Thích Ca , một Hóa thân như vậy đă từng xuất hiện trong sắc thân Padmakara . Ngài vốn không cha mẹ mà đột nhiên sinh ra từ một đóa sen trong hồ nước .

Sinh ra một cách kỳ diệu như vậy , nên ngài được ban cho vô số thần lực , khiến không những có thể nhiếp phục loài người mà c̣n có thể hàng phục ma quỷ và các loài phi nhân khác nữa .

Ngài sống thọ trên một ngàn năm . Ở Ấn Độ khoảng một ngàn năm và Tây Tạng 55 năm . Khi rời Tây Tạng , ngài được nhà vua và 25 đại đệ tử tiển đưa . Ở biên giới Nepal , ngài cưỡi ngựa Mahabala và các Dakini cai quản bốn đại theo hộ tống . Con ngựa bay lên trời để lại các đệ tử đứng nh́n theo bóng ngài nhỏ dần rồi biến mất .

Theo thuyết nầy , Padmakara đáp xuống Bồ Đề Đạo Tràng , ở lại đó một thời gian , rồi đi đến miền đất thanh tịnh gọi là núi Màu Đồng Vinh Quang ( Sangdok Palri ) . Đó là một ḥn đảo lớn , một tiểu lục địa nằm trong biển phía Tây nam Bồ Đề Đạo Tràng . Đảo có nhiều tầng , chỗ thấp nhất là nơi trú ngụ của loài La sát .

Theo tiên tri của đức Phật Thích Ca , loài quỷ ăn thịt người sẽ xâm chiếm thế gian trong một giai đoạn lịch sử sau nầy . Đó là vào thời kỳ tuổi thọ con người giảm xuống ở mức 20 .

Như một hiểm họa lớn , giống La sát sẽ đánh bại và tiêu diệt loài người . Đức Phật cũng tiên tri Guru Rinpoche sẽ nhiếp phục chúng quỷ La sát . Quả thực vậy , Guru Rinpoche đă đến xứ nầy và biến lời tiên tri của Phật trở thành hiện thực .

Quả núi chính trên đảo Màu Đồng ăn sâu xuống biển tới cơi Long cung . Đỉnh núi chọc thủng bầu trời tới tận cơi Sắc giới của Phạm thiên . Ở ngay chót núi là cơi Phật ba tầng hiển lộ một cách kỳ diệu .

Tầng trên là Pháp thân của Guru Rinpoche như Amitabha ,  ở tầng giữa là Báo thân Guru Rinpoche - Avalokiteshvara và tầng thấp là Hóa thân tức căn bản thân của Guru Rinpoche , bao quanh bởi tám Hóa thân .

Guru Rinpoche là Hóa thân của trí tuệ Amitabha , hiện thân lời nói của Avalokiteshvara và là hiện tướng của Sakyabuddha . Trước khi nhập thế , ngài xuất hiện đầu tiên trong cơi Báo thân như ngũ bộ phái của Thoreng Tsal , rồi từ 8 đến 12 hiện xuất đến vô số Hóa thân .

Trước khi rời Tây Tạng , Guru Rinpoche tiên tri nhiều sự việc và cất giấu nhiều giáo lư . Ngài ban phước cho các đệ tử thân cận để họ không bị phân ly với ngài . Trong kiếp lai sinh , họ là những người xuất lộ các giáo lư ẩn tàng đó và cũng tu tập thành tựu , đạt những quyền năng huyền diệu như ngài .

Họ có thể bay trên không , đi xuyên qua vật thể rắn . Diễn giải thông suốt Kinh Luận và Mật nghĩa của Giáo pháp . Đặc biệt Guru Rinpoche tiên tri sự xuất hiện của 108 Terton tức những người có nhiệm vụ xuất lộ các kho Giáo lư ẩn tàng ( Terma ) .

V́ những biến đỗi thăng trầm của lịch sử thế giới . Mỗi Terton sẽ xuất hiện vào thời kỳ nhất định để cứu giúp chúng sinh bị khổ nạn . Tiên đoán trước những vấn đề của tương lai , Guru Rinpoche cất giấu những pháp đặc biệt khế hợp với thời kỳ chúng được xuất lộ .

Thời gian các Terton khám phá ra Terma ; sẽ xuất hiện nền tảng giáo lư hoàn toàn mới hợp thời , hợp căn cơ của chúng sinh trong giai đoạn nhất định . Giống như để giữ ǵn sức khỏe . Chúng ta cần chuẩn bị để luôn cóthức ăn tươi và bổ dưỡng .

Các giáo lư ( Terma ) được ban cho những phẩm tánh rất đặc biệt , mà một trong những phẩm tánh đólà những Terma có ḍng truyền thừa ngắn , sẽ không bị gián đoạn do lời thệ nguyện ( Samaya ) bị vi phạm hay hủy bỏ và cũng không thể bị người khác sữa đổi . Các Giáo lư ẩn tàng nầy , sẽ do Guru Rinpoche trực chỉ truyền trao  sẽ được xuất lộ bởi các đệ tử của ngài trong những kiếp vị lai . Chúng sẽ được phổ biến để mọi người đồng tu tập .

Tóm lại , đặc biệt lợi ích của các giáo lư ( Terma ) là cung cấp phương pháp thành tựu thích hợp cho từng thế hệ , từng thời đại và từng cá nhân . Mỗi Terton xuất lộ những giáo lư mới cho những người có cơ duyên tu tập v́ các Terma cũ có thể bị t́ vết do vi phạm lời thệ nguyện nên có kết quả chậm .

V́ vậy , những Terma mới sẽ được đón nhận một cách hoan hỷ v́ chúng mang lại thành tựu mau chóng hơn . Hơn nữa , tâm lư chung của con người là thường thích những cái gí mới lạ , nên các Terma mới có vẻ hấp dẫn , lôi cuốn .

Người Tây Tạng ít tin tưởng vào các Terma cũ nên việc tu tập có phần lơi lỏng . Sự ra đời của các Terma mới hoàn hảo hơn , tạo một niềm tin lớn thúc đẩy sự tu tập tinh tấn và do đó có kết quả nhanh hơn .

Chính v́ vậy nên có sự xuất hiện của các Terma mới . Nếu không , chỉ cần một Terma cho từng căn của ba căn là đủ . Ba căn gồm Guru , Yidam và Dakini ( Guru là căn bản của phước đức , Yidam là căn bản của sự thành tựu và Dakini là căn bản của tạo tác ) . Khi một Terton mới làm  lộ Terma mới , điều ấy gây nên niềm vui bất ngờ . Đó chính là một trong những phương tiện khéo của Guru Rinpoche .

Đức Bà Yeshe Tsogyal là một trong năm hóa thân Dakini của Kim Cương Du Già Thánh Nữ ( Vajra Yogini ) và là thân hóa hiện của Guru Rinpoche . Sự xuất hiện của bà để giúp Guru Rinpoche phổ biến Kim Cương thừa , đặc biệt là các Giáo lư ẩn tàng ( Terma ) ở xứ tuyết  ( Tây Tạng ) .

Về phương diện văn chương , Dakini có nghĩa là “ Người sống trên trời hay những kẻ du hành trên không ” . Một vị trời không cần thiết đi dưới đất . Có nhiều loại Dakini khác nhau : Dakini trí tuệ , Dakini hoạt động và Dakini phàm trần . Dakini trí tuệ chính là tánh không của giác tâm ( Wakefulness ) .

Giác thức và tánh không như nước với sóng , nhưng giác thức thuộc Nam tánh trong khi tánh không thuộc Nữ tánh ( yếu tố nam nữ trong hành giả ) . Do đó , Đại Pháp Thân là căn bản của tất cả Dakini .

Sự thật , căn bản tất cả nam thần là Phật Pháp thân Samantabhadra và căn bản tất cả nữ thần là Samantabhadri . Samantabhadra là nền tảng toàn bộ tâm thức ( all-perception ) ; Samantabhadri là tánh chất rỗng lặng ( empty ) của toàn bộ tâm thức .

Hơn nữa , Samantabhadri được gọi là hóa thân của đất . Hóa thân của ngài là bà mẹ lớn của pháp thân - Phật Mẫu Pratnaparamita ( Bát Nhă Ba La Mật ) . Vajra Vahari là Báo thân của Pratnaparamita cũng như năm Phật Nữ : Dhatvishvari , Mamaki , Buddhalochana , Pandaravasini và Samayatara là các bà vợ của năm vị Phật  nam . Ở cơi Hóa thân ( Nirmanakaya ) , hiện thân của PratnaparamitaArya Tara . Đây chính là Dakini Trí Huệ Của Ba Thân ( Kayas ) .

Ngoài các Dakini Trí Huệ , c̣n có các Dakini thể hiện những động giúp các hành giả tu tập v́ lợi ích của chúng sinh . Các Dakini Giới Nguyện giám sát sự tôn trọng các Mật nguyện của chúng ta .

Cũng có các Dakini Thế Gian sống ở những Thánh địa lớn , nhỏ ở cơi người : ba mươi hai thánh địa lớn , hai mươi bốn tiểu thung lũng linh thiêng và tám nghĩa địa lớn tổng cộng sáumươi bốn thánh địa .

Đó là chỗ trú ngụ của sáu mươi bốn Dakas và Dakinis . Tương ứng với sáu mươi bốn địa điểm ngoại giới là sáu mươi bốn trung tâm trong thân vật lư . Sáu mươi bốn điểm nội giới là tinh ba của các kinh mạch , năng lực và các nguyên tố . Cũng chính là nơi trú ngụ của sáu mươi bốn Dakas và Dakinis .

Yeshe Tsogyal cũng là hóa thân của Arya Tara . Arya Tara là một trong những hóa thân của Vajra Vahari . Trụ xứ của Vajra Vahari là cảnh giới của Prajnaparamita và cảnh giới rỗng lặng của tâm thức - Samantabhadri . Ba thân nam tương ứng là Phổ Hiền – Samantabhadra , Kim Cương Tŕ – Vajradhara – và Sakyamuni  .

Thật sai lầm khi nói : Chỉ đàn ông mới có thể thành Phật và đàn bà th́ không thể  . Nhưng Pratnaparamita và Samantabhadri là hai yếu tố Phật tính nữ . Năm đặc tánh của Vajra Vahari cũng là năm phẩm hạnh của những vị Phật toàn giác ( Fully-enlightened Buddhas ) .

Arya Tara xuất hiện với h́nh dạng của một Bồ tát Thập Địa , nhưng sự thật ngài cũng là một vị Phật toàn giác . Hơn nữa , tám vị Bồ tát trong số bốn mươi hai vị Thiện thần ( Peaceful Deities ) cũng là những vị Phật .

Như thế phái tính nam hay nữ không phải là quyết định tối hậu . Tám nam nữ Bồ tát trong số các thiện thần trong trạng thái thân trung ấm ( Bardo ) về bản chất giống tám nữ thần Mano và tám Yogini trong số các vị thần phẫn nộ . Các vị Phật nam xuất hiện như nữ và ngược lại các vị Phật nữ xuất hiện như nam .

Các Dakini có thể xuất hiện đủ cách và h́nh dạng khác nhau , một số có dáng phẫn nộ hay gớm ghiếc là để chận đứng niệm tưởng hay tri giác sai lầm (arrest conceptual thingking and wrong perception ) .

Cuối cùng , khi thực hành Giáo lư nên nhớ phẩm cách đặc biệt của hệ thống Kim Cương thừa theo các bản dịch nguyên thủy và đặc biệt với Giáo lư Dzogchen là cần “ Lên cao với đức hạnh trong khi xuống thấp với quan niệm ” ( View ) - Tŕnh độ hiểu biết do học hỏi các môn Triết học .

Theo kinh văn của phái Đại Ấn - Mahamudra và Trekcho th́ quan niệm chỉ là trạng thái của b́nh thường tâm hoặc chỉ tâm tỉnh thức không bị khuấy động bởi niệm tưởng hay kiến chấp.  

Câu nói của Guru Rinpoche có tầm quan trọng quyết định . Nếu khởi sự việc tu tập , hành động theo quan niệm cao , chúng ta có vẻ khùng hay loạn trí . Nhưng quan niệm theo các thừa thấp , chúng ta sẽ không bao giờ gặp cơ hội giải thoát .

Quan niệm của Thanh Văn hay Duyên Giác , Độc Giác không làm ta giác ngộ trong một kiếp mà phải trải qua rất nhiều kiếp  . V́ vậy , cần hành xử theo các thừa thấp hơn chỉ  giữ quan niệm các nội điển Mật giáo .   

Tulku Urgyen Rinpoche
Hang Asura 1989 ,
Trở về đầu trang
2-
Trước hết Giáo lư lên cao với hành vi  

 

MuclucGiaoLyDakini   

 
 

Webmaster@maytrang.org