Pháp Chân Thật - Kim Cang Thừa


GAMPOPA

OSHO

Trungpa

NAROPA

Mahamudra

Kalachakra

Kalachakra II

GiáoLư DaKini

Giáo Lư Bardo

Bồ Tát Hạnh

Tâm Ánh Sáng

TánhGiácLộToànThân

Trí Huệ ThẩmThấu

Con Mắt Băo

Sùng Kính Thầy

Các Vị Chân Sư 

Phô Diễn Tự Tánh

Nh́n Bạn Như Là

Bài Học Yêu Thương

ChuKỳ Ngày-Đêm

Mỗi Ngày

Nói Về Tỉnh Thức

Nỗi Sợ Hăi Căn Để

Những Chữ Vàng

Thực Hành Thế Nào

Tâm Vượt Khỏi
Tử Thần

Thượng Đế
Tại Đây

Giải Thoát
Tự
Nhiên

PHẬT TÂM

Hoang Sơ
Bừng Tỉnh

Dhammapada

Trung Đạo

Nhẹ Nhàng Hướng Về Sự Tỉnh Thức

Những PhụNữ
Trí Huệ

Một Phút Hài Hước

Một Phút Minh Triết

Tử Thư Tây Tạng

Đại Tâm Thức Nghĩ Ngơi

Lối vào Thực Tại

Con Đường TỉnhThức

Chod Mahamudra

Kho Tàng Tâm

Như Một Chúc Thư

Viên Ngọc Như Ư

Luyện Tâm 7 Điểm

Đại Toàn Thiện

Những lời Khai Thị

Lời chân Lư

m Trượng Phu

Sự Tỉnh Thức

Như Một Giấc Mộng

Như Trời - Như Biển

Con Đường Tỉnh Lặng

 Góp Nhặt

Ḷng Bi Bao La

Nghi thức

MOTHER THÉRÉSA

HERUKA VAJRASATTVA

Kim Cang Giới

KỳNguyệnHươngLinh

Cây Giác Ngộ *

Thực Hành
PHẬT PHÁP

 Thơ Văn Mây Trắng

PHẬT GIÁO *

Truyện Ngắn Trên Mạng *

Mục Tham Khảo


Mục Tản Mạn *


Link Liên kết
Thai Cực Quyền


Ḥm Thư Lưu Trữ


Dấu * chỉ đề tài mới & đang

 

 
  Padmasham  
 


Eye of The Storm
 Con Mắt Bảo
Năm Sự Trao Truyền Gốc
Của
Vairotsana
Chuyển ngữ và b́nh luận
Keith Dowman
Evam phỏng dịch
Karanasham hiệu đính

 
 
 

 
   

Phần 1

Lời tựa
của
Bhakha Tulku Pema Ridzin

Năm bản văn  dịch sang Anh ngữ được xem là sự truyền đạt đầu tiên của Dzogchen Ati đến từ Tây tạng . Bản văn này được truyền trao bởi tu sĩ Tây tạng có tên là Vairotsana . Không những ông chỉ thuộc về hệ phái phiên dịch mà c̣n là một đại học giả vĩ đại của Tây tạng vĩ đại .

Ông cũng là một hành cước tăng và là người hành hương rời khỏi đất Tuyết để đi đến đồi Hindu Kush đem về  bản văn của Dzogchen được ǵn giử một cách bí mật . Trở về Oddiyana . Tại đây ông nhận sự trao truyền Dozgchen Ati từ Shri Singha .

Ngay lập tức ông dịch năm bản văn bí mật này sang tiếng Tây tạng được biết là Nga-gyur-nga . Từ đó nguồn gốc và cốt tủy Phật học Tây tạng được h́nh thành gọi là Dozgchen nguyên thủy và nền tảng . Bản văn tŕnh bày chính xác về “ Dozgchen gốc và rễ ” .

Những Tulkus trong các ḍng Nyingma đều quan tâm đến bản văn và xem đó là cốt tủy của chân lư và thực hành ; được thể hiện qua các buổi lễ và sự tôn kính trong ḍng . Về thiền định và Yogas Vajrayana  trong triết học Phật giáo Ấn độ  và Tây tạng . Lấy phương tiện thiện xảo làm lợi ích cho người khác . Không những đây con đường giải thoát cho người và chính ḿnh . Nó c̣n cải thiện sự đau khổ trong luân hồi .

Những ǵ có trước đây đă bao hàm sự tối ưu và rất quan trọng . Sự cho đi phương tiện và những điều kiện thuận lợi chia sẻ Pháp là Dozgchen Ati . Đây là giáo lư đặc biệt và phi thường của ḍng Nyingma . Các bậc thầy kỳ diệu như Vajrasattna , Padmasambhava , Vimalamitra . . . đều đạt đến sự tỉnh thức qua Dozgchen .

Năm sự trao truyền của Vajrasattva làm cốt tủy cho chuổi tâm thức để gầy dựng hạt giống , gốc và nhánh  của Dozgchen . Được gọi là không gian bao la của Vairotsava đă được nghiên cứu và tŕ tụng qua Garab Dorje .

Đây là vị Guru đầu tiên của ḍng Dozgchen  . Nếu ư nghĩa các khổ thơ không rơ ràng hay minh bạch . Có thể tham khảo thêm sự b́nh phẩm được nghiên cứu trong “ Mười kinh văn ” . Có thể  điều này sẽ soi sáng thêm cho các bạn .

Nếu Phật pháp Tây tạng được phát triển mạnh trong các nước Âu Mỷ . Chắc chắn sẽ có sự truyền đạt về Dozgchen Ati - Con đường  đi đến cực đỉnh của Phật giáo Kim cang thừa – Vajrayana..

Trải qua lịch sử Dozgchen Ati . Nó là chủ đề tranh luận trong các trường phái và học thuyết đa dạng của Tây tạng . Nhưng nó laị được tuyên bố qua tất cả các nhà Yogis  trên con đường xác thực trong truyền thống . Và nó nổi tiếng  là sự tu tập bí mật riêng biệt của ngài H. H. Dalai Lama .

Trong sự truyền đạt đến thế giới Tây Phương các phương cách chuyển ngữ . Chắc chắn có trải qua nhiều khác biệt . Nhưng cốt tủy Dozgchen không hề thay đổi . Trong những buổi giảng dạy do các Lama của chúng tôi như : Dudjom Rinpoche , Kanjur Rinpoche trong Dozgchen Mandala ở Darjeeling Ấn độ . Lần đầu tiên tôi có dịp gặp Keith Dowman - Người chuyển ngữ quyển sách này .

Tôi hy vọng rất nhiều người sẽ đọc bản văn này . Mong rằng họ sẽ nhận thức được cốt tủy và ư nghĩa của nó . Chắc chắn họ sẽ đạt đến tính cách tự nhiên về thực tại của Dozgchen  Ati . Sau đó sẽ nối kết  với những ai nhận thức được chân lư tối hậu  này nhưng c̣n ẩn kín .

Xin tất cả chúng sinh đều thoát khỏi đau khổ của luân hồi ! .

Bhaka Tulku Pema Rigdzin
Trung tâm Vairotsana
Los Angeles, California.
Năm tuất , 2006.
------------------------------------------------------
Trở về đầu trang

   

 Phần 2

Giới Thiệu
Của
Người Chuyển Ngữ

Tính tự nhiên  - Dzogchen hay  Đại hoàn thiện . Có thể được cho là tốt nhất . V́ đây là bản chất khao khát sự huyền diệu về tố chất bất nhị . Trong bản văn Tây tạng , nó là  con tim của giáo đồ Shaman , Bon và Phật giáo  . 

Hấp thụ nền tảng văn hoá và ngôn ngữ của đạo Bon và Phật giáo . Bản văn có thể xuất hiện trong sự giới hạn của các truyền thống . Nhưng chỉ thu hẹp nh́n trong khuôn khổ văn hóa . Chắc chắn sẽ rơi vào mâu thuẫn với những ǵ được truyền trao từ Tây tạng . Ở đây chúng ta cần vạch rơ tính chất không minh bạch để đi vào tâm thức của sự tự do cao độ .

Theo lịch sử , Phật giáo cung cấp nền tảng nhận thức cho Đại Toàn Thiện . Chắc chắn nó cũng cung cấp lănh vực tâm linh huyền diệu đầy phong phú cho sự tham khảo . Nhưng thực sự nền tảng Dzogchen đă tự sáng ngời và hoàn toàn thích hợp với các tôn giáo khác trong những bản văn .

Tôn giáo và văn hóa đều truyền đạt trong bản chất vô h́nh tướng . V́ thế khoa học hiện đại được xem như sự kết hợp chặt chẻ giữa giáo phái Shama và  thuyết thần học . Nó thay thế tôn giáo qua các giáo điều xa vời trong hệ thống triết học .

Có thể nói , nó trội hơn Yoga và thiền định bằng các kỹ thuật . Nó truyền đạt sự sáng tạo của tâm . Cho dù bằng nghệ thuật hay khoa học về nhận diện bản chất nguyên thủy bao hàm trong tính chất Đại Toàn Thiện .

Nỗ lực tuyệt vời đi t́m kiếm tính nguyên thủy trong nhận thức và trong lịch sử nhân loại . Chắc chắn một điều . Trong đó được chôn dấu những tính cách huyền bí của Babylon , Ai cập , Hy Lạp , Ư . Trong Mật điển Ấn Độ . Đạo của Trung quốc Trong Muslim Sufism ( Hồi giáo)  và Jewish Torah , Thiên chuá giáo dị biệt Albigensian , Knights Templar và Alchemists . V́ Tính đại toàn thiện gắn liền với nhân loại và không thể  giử kín .

Sự thiếu vắng truyền thống và lời chỉ dạy có thể đột ngột xuất hiện đột ngột một cách tự nhiên . Có thể nói v́ sự khẩn thiết cuả tâm linh nhân loại . Hiện nay nó xuất hiện ở các nước Âu Mỷ và Âu châu từ thập niên sáu mươi . Nó không quan tâm ǵ về văn hóa và phạm vi khác biệt của các tôn giáo . Nó tự xuất hiện vào đúng thời điểm và nơi nào tâm thức con người cần thiết .

“ Con đường không lối đi ” của bất nhị sáng chói luôn giống nhau . V́ tâm tự nhiên không lệ thuộc vào nguồn gốc và thời và không gian trong tính đồng nhất . V́ thế bản văn gốc Ngươi canh giử truyền thống sinh động Phật giáo Vajrayana  phát triển mạnh vào thế kỷ hai mươi mốt  .

Sự huyền diệu của tính bất nhị là nền tảng dùng để phát huy Phật giáo Tây tạng khắp mọi nơi . Đặc biệt là ḍng Kagyu Mahamundra , được truyền đạt ban đầu ở Tây tạng . Lúc truyền thống Cổ mật ( Nyingmapa ) vẫn trong thời kỳ phôi thai . Chúng ta t́m đă nh́n thấy sự trong sáng . Minh chứng rơ ràng từ nền tảng với những ḍng thơ dạt dào tuôn trào về ư nghĩa Đại toàn thiện được xem là Dzogchen  gốc .

Phẩm tính tươi mát ban sơ này đă ảnh hưởng vượt qua nhiều thế kỷ trong lănh vực văn hóa . Phẩm tính này được nhận thức ở Tây tạng vào thế kỷ thứ tám . Đặc biệt trong những tác phẩm huyền bí thi tụng của Vairotsana . Người đă viết lại năm khổ thơ đang hiện diện trong quyển sách này .

Trong tác phẩm của ông . Chứa đựng những cảm thức về ánh sáng chiếu ngời và lan tỏa vào vùng đất của bóng đêm . Ngôn ngữ của Dzogchen mang ánh sáng đến cho giáo phái Shaman . Sự trong suốt của Phật giáo chảy từ Ấn Độ sang Trung quốc , Khotan , Brusha , Oddiyana . Giờ đă thấm đượm hương vị sống của những con người thuộc cao nguyên Tây tạng .

Sự tươi mát đầy sức sống trong cái nh́n của Vairotsana . Tuy được viết lại bằng ngôn ngữ Tây tạng lại mang đầy sức mạnh của thiên nhiên đầy hoang dă . Nhưng lại thể hiện tính trong sáng tự nhiên của vũ trụ sơ khai . Như chỉ cần dùng những ǵ đơn giản . Nhưng Shakespear viết , trong đó sức mạnh của tư tưởng được thể hiện qua các vai tṛ làm sáng tỏ chủ nghĩa duy vật phù phiếm và chủ nghĩa hưởng thụ .

V́ thế , sức mạnh năm tác phẩm gốc của Vairotsana được thể hiện bằng sự truyền đạt đầy bí ẩn . Vairotsana thể hiện ḿnh như một thi sĩ . Nhưng sự gieo hạt vào đất tơi xốp giống như sự thiên khải vào ḍng Dzogchen , Garab Dorje trong vùng Oddiyana .

V́ tất cả các Mật điển cũng như sự truyền đạt và nhận thức của Dzogchen đưọc xem như bắt nguồn từ vô thủy . Tính tự nhiên của tâm là sự trong sáng được nhân cách hóa bằng biểu tượng chư Phật Samantabhadra . Tương trưng cho nguồn gốc tối hậu của sự truyền trao và tự thành tựu . 

Mục đích của năm khổ thơ này , với mong ước làm sản sinh cái nh́n đại toàn thiện trong tâm thức người đọc . Nhưng nó không thực hiện theo những nguyên tắc lô gích mà qua những ǵ ẩn chứa ḍng thơ . Như Patrul Rinpoche  viết : “ Chúng ta không chấp nhận kiểu triết lư tầm thường thuộc truyền thống . Đó chỉ là sự hiểu biết đầy giới hạn bởi nguyên nhân điều kiện cần thiết để minh chứng và lư luận ” .

Sự hiểu biết trải nghiệm trần trụi và nhận thức trực tiếp bản thể nguyên sơ ẩn chứa trong cái nh́n không quan niệm . Trong sự cảm nhận . Mỗi một ḍng thơ là lời giới thiệu trực tiếp vào trạng thái nguyên thuỷ  và Đại hoàn thiện . V́ thế cảm nhận sự truyền trao của các bạn sẽ tự có  hiệu hiệu quả .

Sự duy nhất để đạt đến cái nh́n không quan niệm là ghi chép lại những ḍng thơ phổ biến cho mọi người có thể rộng mở . Từ đó sẽ có rất nhiều người trở về cái gọi là thiên tư hay tâm đại hoàn thiện vốn sẵn có trong tất cả mọi người .

Cái nh́n của sự truyền trao không giống như môi trường của Mật điển , chư Phật  hay Mandala Hóa thần . Không có sự gợi ư nhẹ nhàng của kư hiệu quy ước , lư thuyết trừu tượng và cũng không có ǵ để nh́n đặc trưng của văn học .

Thực vậy , nó không có bất cứ dấu vết của sự việc hay hành động . Cái nh́n của nó không h́nh thành từ một cấu trúc nào . Trạng thái nguyên thủy của sự truyền đạt không có một khuynh hướng hay giáo tŕnh được chuẩn bị . Có thể nói “ Sự đơn thuần ” không có người truyền trao hay thụ nhận mới có thể diễn đạt được .

Cái nh́n thuộc trực nhận trong tri giác đă có tính bao trùm phủ tất cả  và hoàn toàn bất nhị . Nó dung chứa sự nhận thức  trần trụi và trực tiếp . Trong khoảng khắc vô tận của cái “ Ngay tại đây và bây giờ ” . Không có nền tảng không gian cho sự phóng chiếu hay phân cách . Cũng không có thời gian ước lượng để phản chiếu và h́nh thành sự phê phán .

V́ trong đó ẩn tàng sẵn tính tự nhiên hoàn  thiện . Nó tiềm ẩn những bí mật của thực tại bất nhị . Khi nói về tính bất nhị đầy huyền diệu . Trong đó đă sáng tỏ chỉ không có ǵ hiện hữu . Chỉ độc nhất tánh sáng trong suốt soi rọi tất cả mọi nhận thức hằng ngày . Nhận thức và sự vận hành của ư thức tự phân định tất cả vấn đề và sự mâu thuẫn hoàn toàn tan biến trong ánh sáng tâm thức ban sơ .

Có thể nói :

Không có khoảng cách giữa bắt đầu hành động và hoàn thành hành động .Thời và không gian hoàn toàn tan biến trong tổng thể . Sự hóa hiện tự tan biến trong từng thời khắc . Sự tương phản về giới tính tự ḥa tan trong tổng thể từng sát na .

Có nghĩa sự truyền trao Đại hoàn thiện không cưỡng bách vào bất cứ một cấu trúc về điều kiện và hoàn toàn mới lạ trong tâm thức . Nó chính là sự khám phá vốn sẵn qua sự xác tín vào trạng thái nguyên thuỷ của tâm ban sơ . Tính tự nhiên của thực tại đă là sự hoàn thiện tột cùng .

Không có ǵ trong sự truyền đạt để có thể chụp bặt hay bám chấp , nuôi dưỡng khái niệm hay thực hành . Nếu muốn so sánh và mong muốn sự hợp lư hay muốn đưa nó vào hệ thống triết học là hoàn toàn lạc hướng .

Sự truyền hằng hữu trong từng sát na của trải nghiệm tự nhiên không lệ thuộc nguyên nhân hay điều kiện . Nó cũng không thể phát triển bằng sự tu tập Yoga hay thiền định .  Nó không thể h́nh thành bằng tôn giáo . Không có tín ngưỡng cũng không dâng hiến , phục vụ bằng so sánh hay đức tin.. Cũng không có nghi thức để h́nh thành . Sự sáng tỏ rơ biết chỉ đơn giản tồn tại ngay tại đây và bây giờ .

Năm sự truyền trao Vairotsana là lời chỉ dạy có giá trị măi theo thời gian . Lời chỉ dạy này thể hiện về cái nh́n trạng thái nguyên thủy . Nó tác động mạnh vào nhận thức người đọc để có thể mở rộng cánh cửa đi vào cái nh́n Đại toàn thiện . Tuy nhiên , tâm chia chẻ của chúng ta có thể pha chế và sáng tạo thành sự phản đối  trạng thái không có ǵ để làm hay giải quyết và cảm thức sự đồng hóa hoàn toàn biến mất .

Ở đây , ngôn ngữ chỉ là mối liên hệ để chuyển tiếp truyền thống nền tảng không cấu trúc . Từ thực tại này , ẩn chứa sự vắng bặt về bất cứ tính chất đặc thù hay thuộc tính nào . Hoặc sự vận hành về những phương cách không lệ thuộc điều này hay điều nọ để hoạt động hay h́nh thành .

Sự bí ẩn của Đại hoàn thiện an trú trong tính bất nhị là độc nhất . V́ nó là nguồn gốc của sự sáng tạo .  Nó vượt khỏi ngôn từ và tư tưởng . Không thể hiểu nó bằng nhận thức hay diễn đạt . Nó là trạng thái tỉnh thức toàn diện của tâm trong suốt . Khám phá sự bí ẩn này ngay trong thực tại là mục đích và cũng là nền tảng truyền trao ḍng tâm thức của Dzogchen .

Không có ǵ để làm ! . Hoạt động trong vô tác chính là trạng thái Đại toàn thiện . Ở đây và ngay bây giờ thuộc về lĩnh vực tính không trùm phủ khắp mọi chốn mọi nơi . V́ thế , nếu cố gắng chuyển đổi nó bằng kỹ thuật là đi ngược lại những ǵ chuyển động của bản thể tự nhiên .

Cho nên , bất cứ sự nỗ lực hay gắng sức nào cũng vô ích . Muốn t́m kiếm th́ sự t́m kiếm đă trở thành sự ngăn ngại để nhận ra nó . Vô tác là giáo huấn nghiêng về tính tự nhiên đầy năng động và rơ ràng trong thực tại . Đó là ngộ đạo .

Không c̣n thiền định !  . Không c̣n giới luật ! . V́ tâm trong sáng là trạng thái nguyên thủy của trải nghiệm . Chẳng bao giờ nẩy mầm hay tàn lụi . Nó không thể sáng tạo hay hủy diệt . V́ không có cấu trúc .

V́ thế , hăy buông tất cả thực hành bao gồm các kỹ thuật thiền định về tâm thức . Với điều kiện phải kinh qua sự tập trung vào đối tượng thiền định thị giác , âm thanh và tư tưởng . Không c̣n thiền định . V́ nó đă là ḍng chảy vô tận của tâm trong sáng  . Nó nằm trong sự truyền trao trong ḍng thơ thứ tư  Thuật luyện kim .

Không có tiến tŕnh ! . Thế nên , không thể phát triển trong quá tŕnh tiệm tiến !  . Ngay trong khoảnh khắc hiện tiền đă là hoàn hảo và trọn vẹn trong chính nó . V́ thế không có ǵ tối thượng để đạt hay thực hiện . Nên không thể đạt thành bất cứ điều ǵ  hơn sự khao khát trong giây phút hiện tiền .

Không có sự trưởng thành cũng không có tính trưởng thành để tham dự . Không có khái niệm thừa dư của sự vận hành xuyên qua thời gian trong khuôn khổ hảo huyền của lư trí . Không có nơi chốn để  đi ! . Ở đây và ngay bây giờ . Luôn trọn vẹn trong giây phút hiện tiền . V́ thế , không có con đường để đi cũng không có sự truy lùng và không có hành tŕnh mưu cầu . V́ không có mức đến .

Nó không thể chuyển động bởi những hấp lực hay bị đẩy ra khỏi tâm trong suốt . V́ nó luôn luôn ở đây và ngay bây giờ . Vũ trụ chuyển không thể tránh và thực tại trùm phủ chính là sự hằng hữu . Đây là lời chỉ dạy riêng biệt về sự sáng tạo gốc .

Vô phân biệt ! . Không  phê phán hay điều chỉnh ! . V́ ư thức ban sơ thoát khỏi phạm trù của khái niệm và phê phán . Nó không phân biệt tốt hay xấu  , đúng hay sai . Tất cả chỉ là sự dán nhản do phóng chiếu trên màn ảnh . V́ thế , bất cứ điều ǵ xảy ra thường ngày ; đều lan tỏa và tràn ngập và tan biến trong trạng thái nguyên trong từng sát na .

Tất cả đều đă hoàn hảo và tốt đẹp như nó là . . . Không có ǵ để chối bỏ hay chấp nhận  . Tất cả mọi vật luôn trọn vẹn trong các hoạt động là vô phân biệt . Đây là lời chỉ dạy trong sự truyền trao đầu tiên của bản văn Chim cu gáy .

Không có ai và không có ǵ biến đổi ! . Nguyên tố trải nghiệm trong và ngoài  là một phần cánh đồng thực tại  . Trong đó không có nguyên tử để phân chia  riêng rẻ như trong pḥng thí nghiệm khoa học hay trong tâm thức . Lĩnh vực trinh nguyên tính đồng nhất thể là thực tại bất nhị .

Mỗi thời khắc trải nghiệm đều vô ngôn từ và bất khả tư ngh́ . Nó không thể biến đổi hay chuyển hóa điều ǵ đó trong ư thức trong sáng . V́ sự đồng hóa hay không đồng hoá đều ẩn trong tâm trong suốt . V́ thế bất cứ ảo ảnh nào nổi lên đều chính trong ban sơ tối hậu .

Không kiểm soát ! . Không người quản lư ! . Những vận hành kiểm soát và tính toán của vô minh trong tính nhị nguyên . Được thay thế bằng ư thức ban sơ trong trạng thái nguyên thủy . Bất cứ cái ǵ nổi lên hay lắng xuống đều là sự trải nghiệm của liên tục tính .

Bất cứ tín ngưỡng nào thuộc về chân lư vật chất , bản ngă , vô ngă , linh hồn đều hảo huyền . Tất cả chỉ là ảo tưởng . Không có người quản lư hay xủ lư bằng bất cứ tŕnh độ giai cấp nào . V́ ngay tại đây và bây giờ thoát khỏi mọi phô diễn . Những tṛ chơi tự hoàn thiện ngay vị trí của nó . Cho dù trong  hỗn độn hay trật tự .

Sự tuyệt đỉnh của sự truyền trao là  xác nhận trạng thái tự nhiên . Tâm trong suốt đă diễn tả đầy lời chư Phật . Trong Mahayana Phật giáo , ư nghĩa của ngữ lan tỏa trong Bồ đề tâm và chia xẻ những ǵ cần thiết cho người . Nó được diễn dịch như là tâm tỉnh thức hay tâm giác ngộ .

Trong ḍng tâm thức Dzogchen . Tâm tỉnh thức là nền tảng của tất cả vạn vật và chính điểm khởi đầu của tiến tŕnh và sản sinh trong tổng thể.  Nó được xếp vào lĩnh vực thực tại là tiến tŕnh giải thoát của tâm tự nhiên và ư thức ban sơ .

Tâm trong sáng là trạng thái bất nhị và nó không chiếm hữu bất cứ phẩm tính của định rỏ biết nào . Nó tự do an trú trong bao la vô tận , rộng mở và sâu thẩm . Nó là sự vô biên  trùm phủ , thấm nhuần  trong trạng thái nguyên thủy của chúng ta . Nó là  di sản rộng lớn ẩn trú trong tỉnh thức trực tiếp và ngay bây giờ.

Tâm trong sáng được xem như Samantabhadra - Phật nguyên thủy . Không phải là vị Phật để thờ cúng , tôn sùng mà chính là thực tại trong từng sát na . Người truyền trao hay biểu lộ chính là Phật và chúng sinh đồng trong bánh xe cuộc đời , thoát khỏi sự cư trú và tái sinh . Lời truyền trao thể hiện trải nghiệm ngay giây phút hiện tiền ; trong cái nh́n thực tại vạn vật cùng đồng nhất thể .

Thời gian của giáo huấn ngài là  sát na vô tận suốt quá khứ , hiện tại và vị lai . Nơi ngài giáo huấn là cánh đồng vô phương hướng . Trong trạng thái tính toàn thiện . Thế giới vật chất là  sự tiêu thụ của tính tự nhiên như  ánh sáng xuyên qua sự tỉnh thức ban sơ trong tri giác và nhận thức .

Bốn nguyên tố  Đất , Nước , Gió , Lửa . Sự tu sửa hay cô đọng trong lĩnh vực thực tại tự chính nó và tâm thuấn khiết . Cho dù chủ thể là ảo ảnh và đối tượng trải nghiệm về nhất như . Cánh đồng thực tại với sự phô diển chiếu sáng chẳng bao giờ  kết tinh thành cái này hay cái nọ . . .

Đây là trạng thái của tính ban sơ . Nhưng v́ trạng thái không thể trở thành đối tượng tập trung . Từ đó nó không có con đường  nhận thức , suy tưởng , khẳng định hay  minh chứng được . Chỉ có thể diễn đạt như : “ Không có giác ngộ ” hay chỉ là cảm thức trong vũ trụ tỉnh thức .

Sự diễn đạt của tâm trong suốt là ḷng bi lan tỏa trong sự trải nghiệm . Giống như nước trong sữa . Ḷng bi như thế là sự tiềm tàng của phát minh và chuyển đổi của tính chất nhân loại và cá nhân .

Mỗi một phẩm tính tượng trưng cho những yếu điểm như : Đồi trụy , đức hạnh . . . biểu lộ của con người trong ṿng xoáy của cuộc đời . Trải nghiệm này thuộc tâm lư đa dạng của cơi người , trời , bán thần , ngạ quỷ , thú vật  và ma quỷ . . . Nhưng bánh xe luân hồi lại thể hiện ḷng bi của tâm trong suốt và sự cảm thông là ṿng quay của cuộc đời .

Phật nguyên thủy - Samantabhadra kết hợp trọn vẹn với tâm trong sáng như bản chất tính không với sự chiếu sáng chói lọi diễn đạt bi mẫn . Tâm trong suốt bao la vô tận là Vatrasattva được nhân cách hóa ; để thể hiện sự tỉnh thức ban đầu lan tỏa trong không gian vô tận .

Sự trùm phủ không gian vô biên là nhận thức tiến tŕnh của bất nhị . Vajrasattva  tượng trưng cá nhân trong tiến tŕnh đó . Tiến tŕnh này là sự giải thoát . V́ thế ngay tại đó  . Chẳng bao giờ có bất cứ trải nghiệm nào .

Sự hiện diện của ngài cung cấp sự quả quyết . Ư thức ban sơ về lĩnh vực thực tại bất biến . V́ thế Vajrasattva có tên : “ Trạng thái bất hoại ” . Vajra là biểu tượng trạng thái bất biến của ư thức nguyên thủy .

Sự năng động của ngài là tự do của Đại toàn thiện . Sâu sắc hơn , nó là tâm thuần khiết trong sự trải nghiệm . Cũng như Vajra vốn gắn liền trong từng sát na . Chẳng phân ly hay bất phân ly với Vajrasattva . V́ nó là phong cách trạng thái tự nhiên của Đại toàn thiện . Những ǵ xuất hiện ngăn che nhận thức về tính vô biên là : Sự bám chấp . Giống như  phủ lớp nhơ bẩn trên vàng nguyên chất .

Nếu sự bám chấp xuất hiện che lấp tính nguyên thủy . Thế th́ , những điều cần thiết chính là sự chao đảo bất ngờ ḥa vào khả năng trực giác của tham chấp . Tự chính nó như là ư thức ban sơ loé sáng của thực tại .

Nếu vấn đề nổi lên từ nghiệp lực xâm nhập vào hàng đầu tâm của chúng ta và tri giác thường xuyên gián đoạn trong ḍng tâm thức sinh ra sự ám ảnh . Thế th́ , những ǵ hiện lên đều là sự hiểu biết qua trực giác trong suốt . V́ vậy sự xuất hiện của những chướng ngại nỗi lên trong tâm sẽ cung cấp ch́a khoá của sự tự tan biến trong chính nó

Một số người nhận rơ dục vọng , ham muốn , giận dữ và các cảm xúc rối loạn là chiếc màng dầy đặc làm tắc nghẽn tâm tỉnh thức . Nhận diện ánh sáng và trạng thái hỷ lạc trong sáng phô bày tuyệt vời . Chính là biểu hiện sinh động xua tan những niềm tin hảo huyền .

Một số người thuyết phục bằng tính lô gích trong lư trí và bám chấp vào các khoái cảm . Tự h́nh thành cạm bẫy khóa chặt tính bao la rộng lớn . Lư trí nên xây dựng tự chính nó thuần  thục các tư tưởng ; để thiết lập cánh cửa đi vào nền tảng không gian vô tận của Vajrasattva .

Vượt qua những chướng ngại của cảm xúc và thức phô diễn . Người ta cần thực hành giới luật , đức hạnh , Yoga và thiền định . An b́nh chúng với mục đích giải thoát khỏi tham chấp và tái sinh .

Nhưng sự lo lắng làm mất đi giây phút hiện tiền lợi ích tương lai và sự phấn đấu để lư trí tự tan biến một cách tự nhiên trong sự nghỉ ngơi của hoạt động vô tác . Vi khuẩn tâm nhị nguyên và con đường hướng về mục tiêu tâm linh vật chất được chửa lành bởi tâm trong suốt .

Tính phù phiếm do cố gắng chụp bắt những ǵ đă sẵn có . Chúng ta đến sự cưỡng bách đức hạnh qua những nguyên tắc của chuổi nghiệp được móc xích vào nhau cung cấp  nhiều cạm bẩy . Thế nên , sự thư giản là ḥa vào giây phút hằng hữu ngay tại đây và bây giờ .

Không ǵ để làm cả ! . Bằng ḷng với sự trong sáng và tính không . Trạng thái tự nhiên rọi sáng xuyên qua tất cả . Khi nghiệp lực và đức tin rơi rụng và tan biến  . Chúng ta quy phục sự năng động của chư Phật . Sự trầm tư tự phát sinh . Thế là ư thức ban sơ chiếm ưu thế và loại trừ bất cứ sự tin tưởng dư thừa nào trong thế giới nghiệp lực .

Với sự nhận diện thực tại như đă tŕnh bày . Nhận diện sự ủy thác về lời nguyện của Dzogchen - Tính không , mở rộng , thanh thoát trong trạng thái đồng nhất thể . Ư thức về tính tự nhiên là sự hiện diện trung kiên và tự nhiên . Chẳng bao giờ lên hay xuống . V́ đó là chân lư của Phật tánh ngay tại đây và bây giờ . Những thiết lập về sự phô bày của Samantabhadra . Không ǵ khác dạng thức vũ trụ trung tính . Có nghĩa nó chính là trạng thái trung tính .

Đoàn tùy tùng của Samantabhadra là tất cả chư Phật và chúng sinh . Sự phát quang ánh sáng cầu ṿng lan toả thẩm thấu từng sự ảo huyền khi quá rắn rỏi trong hữu h́nh và quá giả tạo .

Sự phóng chiếu môi trường tâm lư về thế giới ngạ quỷ . Trong cơi người , người ta có thể tu tập bằng các giai đoạn tiệm tiến đi đến tỉnh thức . Họ an trú theo tŕnh độ đẳng cấp của mỗi người .

Tất cả các hoạt động của cơi người và trời . Tự trọn vẹn và hoàn thành trong chính họ . Cho dù có các hành động hướng về một mục tiêu . Đó chỉ là sự sáng tạo hay trục trặc do va chạm nho nhỏ trong tiến tŕnh vũ trụ tỉnh thức . Khả năng giải thoát của Vajrasattva lan tỏa và trùm phủ khắm cả năm nguyên tố và h́nh thành sự hóa hiện trong môi trường thô và cùng khắp .

Phong cách sống là kết hợp với cái nh́n . Các kỹ thuật dùng để xoa dịu và thiền định là để ứng dụng cho : Tăng , ni , người thế gian , phụ nữ , Yogis , Yoginis . Tukus , Dakini có thể nhận thức các  cấp bậc kim tự tháp của tâm không cấu trúc . Có tất cả chín cấp bậc  trong sự truyền trao . Mỗi một tŕnh độ trực tiếp và lắng nghe với những  người có sự tương quan .

Chín cấp bậc là :

Atiyoga .
Anuyoga .
Mahayoga .
Tantra - Sattva Yoga .
Ubhayayoga .
Kriyayoga .
Bồ tát đạo .
Ẩn sĩ .
Đệ tử .

Tŕnh độ Atiyoga là :
Yogi tối thượng , lỗi lạc ;
Và thông thạo các truyền trao của Đại toàn thiện .

Tŕnh độ Anuyoga là :
Nhận diện về thực tại , sự tỉnh thức , tính rộng lớn . . .
V́ thế ,
Những sự hiện xuất do tâm phóng chiếu đều trở ư thức nguyên sơ.

Tŕnh độ Mahayoga là :
Các nguyên tố vật lư , nhận thức và lĩnh vực tri giác ;
Được tiết lộ và nhận diện trong thực tại .

Tŕnh độ Mahayoga là :
Sự chỉ dạy về cấu trúc tâm nhị nguyên ;
Được nhận diện như năm gia đ́nh chư Phật .

Tŕnh độ Tantra - Sattva Yoga là :
Cho dù các dục vọng ham muốn không buông thả ,
Không c̣n bám chấp vào nó là khẩn thiết buông bỏ  .
V́ thế ,
Trong ư thức ban sơ và bốn phối ngẩu đều được nhận thức  .
 

Tŕnh độ Ubhaya Yoga là :
Nhận diện ánh sáng trong suốt ;
Với sự khuếch tán ánh sáng qua các màu sắc ,
Và những cảm xúc về ảo cảnh được chỉ dạy .

Tŕnh độ Bồ tát đạo là :
Sự yêu thương ,
Tính tự nhiên cuả tâm chiếu sáng thấu suốt .


Tŕnh độ Ẩn sĩ  là :

Sự nhập thất .


Tŕnh độ đệ tử là :

Lắng nghe và học hỏi .

Cuối cùng , phân biệt giữa người thọ nhận sự truyền trao . Đă có những người sẵn sàng b́nh luận về Đại toàn thiện . Dạng thức này đă đạt đến cái nh́n qua đọc hay lắng nghe về sự truyền trao . C̣n được goị là  : “ Sự giải thoát qua lắng nghe ” .

Xuyên qua nhận thức của tâm nguyên thủy . Bất cứ cái ǵ nổi lên đều được giải thoát và tan biến ngay lập tức không để lại dấu vết  . Trong Dzogchen . Những Yogis và Yogini phương thức hiện hữu của họ tương ưng với : “ Chim bay không để lại dấu vết trên bầu trời ” .

Tất cả trải nghiệm đều là những vũ điệu . Như sự thoát khỏi những phô bày cảm xúc khoái lạc . Không có người thiền định và sự thiền định . Nếu có trục trặc nho nhỏ xuất hiện . Lập tức chuyển hóa vào giây phút hiện tiền và trở thành cánh cửa đi vào tính rộng mở của Đại toàn thiện chẳng bao giờ  buông thả .

Ai nh́n thấy ảo cảnh Samantabhadra , rơ ràng xuyên qua sự truyền trao nhưng sau đó lại đánh mất . Xuyên qua lời giới thiệu . Họ chấp nhận cái nh́n ảo mộng . Nhưng vẫn đắm ch́m vào sự quan tâm của thế gian như : Yêu - hận , thành công - thất bại . . Họ nh́n những ǵ tưởng tượng của tâm . Tương quan như một cá thể cô lập vào môi trường thô ; và trở thành bám chấp các ảo cảnh  hiện bên ngoài của Samanbhadra . Nên bị lạc hướng .

Tuy nhiên , cái nh́n không thiền định . Tâm thức quay trở lại như mặt trời mọc  . Với sự gia tăng quen thuộc và thân thiết . Dũng cảm chấp nhận và quy thuận tâm nguyên thủy . Sự tự tin trong hoạt động vô tác sẽ xác nhận một lần nữa . Tín  ngưỡng trong cấu trúc tâm linh sẽ giăm bớt . Sự phóng chiếu mơ hồ bị mờ nhạt . Xuyên qua sự nhận thức nguồn tối hậu  . Bất cứ điều ǵ xảy ra trong Bardo đều được nhận thức như thân ánh sáng .

Có người nhận thức cái nh́n ảo cảnh qua cặp kiếng đen . Nên gạt bỏ bằng tư tưởng phê phán trong khi đọc hay nghe sự truyền đạt . Họ tư lường , phân tích và trở thành tâm nghi . Trong tiến tŕnh nhị nguyên . Cái nh́n này là ngoại hiện và sự cách biệt trở thành mục đích vi tế ; để đạt đến cảm thức phân chia khi đối diện .

Luân hồi phân ly với Niết bàn trong tiến tŕnh tư tưởng xuyên qua thời gian và chụp bắt sự ồn ào của cảm xúc . Thê nên , chúng ta dễ bị ảnh hưởng bởi t́nh cảm , mong đợi và sự nắm bắt . Hành động chúng ta được quyết định qua nghiệp lực . Có thể nói : “ Chúng ta là chủ thể của nghiệp lực báo ứng ” . V́ bị cột chặc vào bánh xe luân hồi .

Sau khi nhận sự truyền đạt của Samantabhadra . Chúng ta thoáng thấy sự lóe sáng của giây phút hiện tiền . Chúng ta đă bỏ mặc nó . Chỉ v́ bám chấp vào sự hiểu biết tri thức . Nên nó không c̣n tác dụng trong giây phút hiện tại của chúng ta .

Chúng ta sống trong một thế giới đầy ưa thích , tính thiên vị , bám chấp , sân hận , phân biệt , phê phán , hy vọng và sợ hăi . Có nghĩa chúng ta chưa sẵn sàng . V́ c̣n lưỡng lự trong tri giác về sự thiếu thốn . Chúng ta chỉ là người mới bắt đầu . Chúng ta cần phải mở rộng sự tiến hoá tâm linh thêm hơn nữa ; để ngày càng tốt và đức hạnh hơn . Chúng ta kiểm soát ḍng năng lượng , đặt mục tiêu và  đạt thành . Có nghĩa cần phải leo lên nấc thang tâm linh thuần khiết và trong sáng .

Sau khi khám phá ra những bí ẩn của cảm xúc mâu thuẫn và tư tưởng bị nhiễm độc bởi hy vọng và sợ hăi . Chúng ta kết luận là phải hoàn tất . Muốn điều trị là phải hướng về mục đích là : Đạt đến trạng thái bất nhị . Những độc giả như thế có thể dâng hiến cuộc đời bằng con đường tiệm tiến của người nỗ lực .

Thực hành thiền định qua kỹ thuật Yoga . Nhưng lại rơi vào lầm lẫn nhận thức về sự hoàn thiện của tính nguyên thủy . Nói cách khác . Tuy nghe rất nhiều sự truyền đạt và tư duy về nó . Nhưng thiếu sự trải nghiệm . Họ có thể  phủ định ,  chối bỏ và quên lăng con đường .

Họ sống như tên nô lệ trong bánh xe luân hồi . V́ tin vào thế giới ngoại vật vững chắc , hoàn toàn kiên cố và nhận thức tưởng là chính ḿnh . Măi bám chặt vào dục lạc khoái cảm , sân hận sẽ đi đến khổ đau . V́ măi chờ  đợi khám phá hay ai đó sẽ tiết lộ tâm nguyên thủy một cách không ư thức .

Vairosattva
Nhà học giả lớn

Trong cái nh́n Đại toàn thiện . Năm sự truyền trao là Dharmakaya Samanbhadra tự chính nó . Xuyên qua sự trung  tính của Vajrasattva . Kết hợp lời thệ nguyện trong sự ḥa hợp  Sự truyền trao này xuất hiện như sự phô bày ḷng bi bất tận trong tính nguyên thủy . Sự tiết lộ này được nhận biết bởi Vajra Delight hay Garab Dorje là những vị thầy đầu tiên của ḍng Dzogchen .

Vào thế kỷ VIII trong vùng trung tâm Á châu . Một địa điểm có ảnh hưởng sâu rộng về chính trị và văn hóa Tây Tạng . Dân du cư nơi này liên kết với Tây tạng thành lập quân đội kéo dài từ Perisa đến Trung quốc và từ Nepal  đến Mông cổ .

Giáo hội Shamin của họ bị ảnh hưởng nền văn hóa nên tính chất phác theo quá tŕnh từ từ biến mất . V́ thế , nền tảng văn hóa chính là Phật giáo tư duy với nhiều sắc thái khác  nhau .

Những đội kỵ binh và những đẳng cấp . Thương gia , nghệ thuật . Giao dịch buôn bán với người Himalayan và tất cả khu vực Lhasa . Những tu sĩ Trung quốc , các học giả  Ấn độ - Varayana từ Bengal . Các học giả từ Bihar và Khotan . Yogis của hệ thống Mật điển từ Kashmir và thung lũng Nepal , Hindu Nam Ấn độ . Đạo Bon Shaman từ  vương quốc Zhangzhung thống trị Tây Tạng trước triều đại Yarlung Valley .

Các tu viện được xây dựng bằng đá trong vùng đất lều trại Yak-Hair . Đức vua ủng hộ và cung cấp cho các tu viện trực tiếp qua trưởng tràng Bengali . Người được phong chức đại diện các tu sĩ Tây tạng .

Đi đến sông Yarlung Tsangpo bên cạnh tu viện mới . Một trong những thung lũng mầu mỡ kéo dài đến hướng Bắc gọi là Nyemo - Làng của Jekhar . Đi bộ chưa đến một ngày .

Vairosattva được gọi nhận lễ thụ phong từ Benggali . Ngài là một vị tăng trẻ đầy năng động và sáng ngời . Ông được tuyển chọn về để học sinh ngữ . Vào lúc đó cũng có một số tu sĩ khác cũng được thu phong như Vairosattva .

Nhà Yogi trừ tà Padmashambhava được mời đến Same từ Kathmandu . Ngài đă thành công lớn trong lần đối chứng với giáo phái Bon Sahmans . Sau đó Phật giáo chứng minh uy lực lớn mạnh hơn .

Ngài đă lang thang trong các thung lũng của Himalayan rất nhiều năm . Rời bỏ theo chân là vị phối ngẩu của ngài . Sự nổi tiếng của ngài từ Tây tạng tăng thêm qua lời mời gọi của vị hoàng tử lân cận . Ông vốn là người sống trong triều vương miền Tây Himalaya gọi là Oddiyana - Vùng đất của các Dakini .

Oddiyana kếp hợp với kỷ luật phi thường của Dzogchen , được biết của người Tây tạng Yarlung kết hợp với đạo Bon từ Zhangzhung có liên  hệ với Brusha và các triều vương khác trong thung lũng  phía trên Indus .

Sự tranh luận về học thuyết xu hướng tự nhiên trong giới luật không thể làm thỏa măn ngay lập tức . Nhưng có lẽ qua lời truyền trao bí mật của  Padmasambhava , với liên hệ về ư thức được h́nh thành  ở Samye . Dzogchen có thể trả lời  tất cả vấn đề của người Tây tạng .

Sau đó , dưới sự bảo trợ của vua Trisong Detsen . Vairosattva và một người bạn  được tuyển chọn du hành qua Oddiyana ; để mang về Tây tạng sự truyền đạt của Dzogchen .Tuyến đường trực tiếp đến Oddiyana nằm trên đồi Yarlung Tsangpo . Xuyên qua  núi Kailash đến hướng  nam . Tiếp tục đi vào trung tâm cổ của Zhanghung . Đi tiếp xuống đồi Indus xuyên qua Ladakh đến Kashmir , Brusha ở hướng Nam  . Bây giờ  là Afghanistan thuộc hướng Đông .

Hành tŕnh của Vatrosattva đến Oddiyana t́m gặp Sri Singha . Vùng tiếp cận Trung quốc thuộc sa mạc Taklamakan . Lúc ấy Shri Singha sống tại tu viện chín tầng . Đầu tiên ông phải qua người nữ giử cửa trần truồng ngăn đường .

Nhưng với tâm ngây thơ , ông đưa cho cô ta một số vàng  và nói lên sự mong muốn tiếp kiến Shri Singha để thỉnh nguyện được truyền trao giáo lư phi thường - Dzogchen . Ông cũng nhấn mạnh rằng : Sự truyền đạt này sẽ được mang về truyền trao ở Tây tạng .

Nhưng người giử cửa vẫn để Vairosattna chờ đợi cho đến sáng . Sau đó , mới hứa vớí vị tăng trẻ tuối Tây tạng rằng : Ông sẽ được truyền đạt với điều kiện phải học hỏi sự uyên thâm này từ sự tiếp cận giáo lư bên ngoài vào ban ngày . Đêm đến mới được trao truyền giáo lư Atiyoga .

V́ lúc ấy đức vua cấm truyền bá Dzogchen Ati ra ngoài . Cho nên vào ban đêm vị thầy sẽ viết những ḍng truyền đạt tâm thức trên lụa trắng bằng sữa dê . Chỉ có thể đọc được khi hơ trên ngọn lửa  .

Sau đó , do sự nài nỉ khẩn thiết . Shri Singha  ban cho ông chuổi giáo huấn thai tạng với phương cách lẫn màu sắc trắng , đen . Vairosattva vẫn chưa thỏa măn . Nhưng Shri Singha không cho thêm giáo huấn nào nữa .

Cuối cùng Vairosattva gặp vị Guru đầu tiên của ḍng truyền thừa Dzogchen - Garab Dorje . Sự gặp gở này xảy ra tại ḷ hỏa táng – Dumasthira . Nơi của khói và lửa . Vairosattva tan ḥa vào sự hội ngộ và được truyền trao sáu trăm bốn mươi ngàn ḍng thơ Dzogchen và thân ánh sáng .

Ông trở về trung tâm Tây tạng nhanh chóng . Ông được chào đón bằng những nghi thức trọng đại đầy vinh dự và an trú trong cung điện . Ông bắt đầu dịch năm sự trao truyền . Trong thời gian này ông dạy vua Trisong Detsen những lời dạy ông chuyển ngữ theo đường lối của Shiri Singha truyền trao . Tiến tŕnh tiếp cận giáo lư bên ngoài vào ban ngày và học Dzogchen vào ban đêm .

Tuy nhiên gần cung điện tuần trăng mật của con mắt bảo đi đến sự kết thúc và sự bảo tồn ḍng truyền thừa trong Tây tạng đến thời kỳ bị rơi vào sự công kích . V́ một trong những người vợ của nhà vua bị sự tác động của vua Oddiyana ra lệnh phải cắt bỏ những hoạt động về giáo lư Dzogchen của Vairosattva .

V́ thế bà tố cáo ông hăm hiếp và đề nghị phải trừng phạt ông . Vua chỉ miễn cưỡng tin . Nhưng không chịu đựng nỗi sự tố giác và lăng mạ của hoàng hậu . Nên ngài buộc ḷng trục xuất Vairosattva đến Tsawa Rong nước Gyelmo Rong vùng Kham phía đông Tây tạng .

Ở đó , Vairosattva dạy Dzogchen cho ba Yogins , trong số đó Yudra Nyingpo là  người đứng đầu và sau này sáng lập  ḍng riêng biệt là ḍng truyền thừa kiên tŕ trong vùng hướng Đông của Tây tạng .

Khi cung điện đă trở về sự b́nh lặng . Vairosattva được gọi về từ chổ lưu đày để tiếp tục dạy và dịch thuật ở trung tâm Tây tạng . Người học hỏi chính yếu về sự truyền đạt của ông là Nyak Jnana Kumara , Khotanese hoàng hậu Liza Sharab Dronma . Sau này ông được mời đến Khotan dạy cho ba người và qua đời tại đây . Một vùng ngoài đất nước . Như thế , Vairosattva là gốc tất cả ḍng truyền thừa Dzogchen của Tây tạng . 

Chú thích 

Năm sự truyền trao được t́m thấy trong “ Những sưu tầm mật ” của Vairosattva . Tham chiếu bản trích yếu vào thế kỷ XII . Được đối chiếu với quyển “ Cội nguồn tối cao ” . Chuổi tâm thức Dzogchen rực rở trong bản văn đầu tiên chứa đựng một phần  Atiyoga của “ Sự sưu tập Mật cổ truyền ” .

Đây là sư tập hợp cuối cùng đă trải qua  nhiều sự biến đổi  và là nguồn gốc của bản văn Dzogchen này . Bản văn thứ hai về Atiyoga “ Mười kinh điển ” , b́nh phẩm về Năm sự truyền đạt của Vairosattva cũng là nguồn phong phú của Dzogchen  . Nó được viết qua với tác giả vô danh có thể vào thế kỷ XII .

Trong tài liệu này các ḍng được giới thiệu về mỗi sự truyền đạt được tổng hợp từ tài liệu “ Cội nguồn tối cao ”  và Mười kinh văn . Khổ thơ gốc được chuyển dịch với sự uyên bác nhất  . V́ thế khi đọc có thể gợi lại những nguồn gốc khác nhau .

Sự chiến thắng bất diệt . Không gian bao la của Vajrasattva - Sự truyền trao . Được chia ra làm hai mươi bảy đạo được t́m thấy trong “ Những sưu tầm  mật ” của Vajrasattva . Tiểu đề b́nh phẩm về sự chiến thắng bất diệt được lấy từ “ Mười kinh văn ”  . Cuối cùng b́nh phẩm tóm lược ư nghĩa toàn bộ khổ thơ . 

Ghi Nhận

Với ḷng biết ơn và cảm kích tôi xin chân thành cám ơn tất cả các vị thầy của ḍng truyền thừa Tây tạng với những sự truyền trao . Đặc biệt Dudjom RinpocheKanjur Rinpoche . Cả hai đều là con tâm linh của người khám phá kho tàng vĩ đại Trinle Jampa Jungne .

Xin chân thành cám ơn người bạn tôi Bhakha Tulku Pema Rigdzin - Nhà Yogi Dzogchen về sự tử tế của ông . Chogyal Namkhai Norbu , vua Terton của thời đại chúng ta đă ban cho sự hiểu biết sâu rộng . Adriano Clement , Terese Core và Sondra Hausner đă đóng góp rất nhiều công sức cho việc xuất bản quyển sách này .

Keith Dowman
Ở Great  Stupa - Boudhanath
Trong Kingdom - Nepal
Năm  dậu - 2005
----------------------------------------------

Trở về đầu trang

 

3 & 4 -Tiếng hót ngộ đạo của chim cu .* Sự sáng tạo nguồn gốc .

 
 

Webmaster@maytrang.org