Pháp Chân Thật - Kim Cang Thừa


GAMPOPA

OSHO

Trungpa

NAROPA

Mahamudra

Kalachakra

Kalachakra II

GiáoLư DaKini

Giáo Lư Bardo

Bồ Tát Hạnh

Tâm Ánh Sáng

TánhGiácLộToànThân

Trí Huệ ThẩmThấu

Con Mắt Băo

Sùng Kính Thầy

Các Vị Chân Sư 

Phô Diễn Tự Tánh

Nh́n Bạn Như Là

Bài Học Yêu Thương

ChuKỳ Ngày-Đêm

Mỗi Ngày

Nói Về Tỉnh Thức

Nỗi Sợ Hăi Căn Để

Những Chữ Vàng

Thực Hành Thế Nào

Tâm Vượt Khỏi
Tử Thần

Thượng Đế
Tại Đây

Giải Thoát
Tự
Nhiên

PHẬT TÂM

Hoang Sơ
Bừng Tỉnh

Dhammapada

Trung Đạo

Nhẹ Nhàng Hướng Về Sự Tỉnh Thức

Những PhụNữ
Trí Huệ

Một Phút Hài Hước

Một Phút Minh Triết

Tử Thư Tây Tạng

Đại Tâm Thức Nghĩ Ngơi

Lối vào Thực Tại

Con Đường TỉnhThức

Chod Mahamudra

Kho Tàng Tâm

Như Một Chúc Thư

Viên Ngọc Như Ư

Luyện Tâm 7 Điểm

Đại Toàn Thiện

Những lời Khai Thị

Lời chân Lư

m Trượng Phu

Sự Tỉnh Thức

Như Một Giấc Mộng

Như Trời - Như Biển

Con Đường Tỉnh Lặng

 Góp Nhặt

Ḷng Bi Bao La

Nghi thức

MOTHER THÉRÉSA

HERUKA VAJRASATTVA

Kim Cang Giới

KỳNguyệnHươngLinh

Cây Giác Ngộ *

Thực Hành
PHẬT PHÁP

 Thơ Văn Mây Trắng

PHẬT GIÁO *

Truyện Ngắn Trên Mạng *

Mục Tham Khảo


Mục Tản Mạn *


Link Liên kết
Thai Cực Quyền


Ḥm Thư Lưu Trữ


Dấu * chỉ đề tài mới & đang

 

 
  Padmasham  
 

 

 
 
 

 

LỜI CHÂN LƯ

Đức phật , Bồ tát và thiện tri thức cuả quá khứ , hiện tại và vị lai . Có những phẩm tính tuyệt hảo bao la rộng lớn như đại dương . Các ngài lưu tâm đến tất cả chúng sanh không nơi nương tựa như đứa con độc nhất của ḿnh ; Xin hăy suy xét sự chân thực của bản công bố về niềm đau khổ  của nhục thể lẫn tinh thần tôi .

Toàn bộ giáo lư đức Phật làm tiêu tan ảo giác đau đớn của thế giới và t́m thấy nội tại b́nh an trong chính ḿnh . Xin giáo lư nẫy mầm lan tơa thuận lợi và hạnh phúc bao trùm toàn cơi không gian  nầy .

Những người nắm giử pháp : Học giả và hành giả sáng tỏ giáo lư . Xin cho mười tâm niệm đức hạnh vững bền . Chúng sanh rung chuyển bởi đau khổ , v́ không tỉnh lặng . Hoàn toàn dồn nén vạ con đường bế tắc , khủng hoảng vô cùng trong hành vi tiêu cực .

Xin cho sự sợ hăi của họ bắt nguồn từ đau đớn cuả chiến tranh , nạn đói và bệnh dịch . Được xoa dịu ! .

Với hơi thở tự do . Niềm hạnh phúc của đại dương và sự tốt đẹp riêng biệt đối với ngướ sùng đạo của đất Tuyết . Những người thông qua rất nhiều ư nghĩa hũy diệt tàn nhẩn bởi đoàn người dă man từ phía bóng đêm .

Xin hăy tăng trưởng nguồn sức mạnh cuả ḷng từ đi ngược ḍng  nước mắt và máu . Bạo lực là đối tượng của ḷng từ , điên dại bởi ảo giác của ma quỷ , muốn hũy diệt chính họ và những người khác . Xin cho họ đạt được cái nh́n con mắt huệ để nhận biết những ǵ cần thiết phải làm và không làm và tồn tại trong t́nh người chóí lọi , và yêu thương .

Xin cho lời cầu nguyện bi thống nầy , dành cho những người Tây tạng được tự do hoàn toàn và sự chờ đợi lâu dài được thỏa măn .

Xin chắn chắc một điều chẳng bao lâu sự may mắn tốt lành hân thưởng với những lể hội linh thiêng qua sự cai trị giàu sang và phong phú .

Ngài bảo hộ Quán Thế Âm tự tại .

Với ḷng bi chăm sóc cho mọi người mà họ chịu đựng vô vàn những thử thách cam go . Hoàn toàn hy sinh đời sống yêu thương nhất , thân xác và sự giàu có cho sự lợi ích của giáo lư . Những hành giả , nhân loại và đất nước.

Người bảo hộ , Chenrezig có nguyện lực lớn trước khi thành Phật và bồ tát . Xin bao bọc tṛn đầy đất tuyết , xuất hiện nhanh nhất với cầu nguyện kết quả tốt đẹp nầy . Bởi vi diệu tánh không và hoá thân , kết hợp với nguồn năng lượng ḷng bi mẫn vĩ đại .

Trong  ba bảo vật quư giá Phật – Pháp  và Tăng đoàn và những lời chân lư sâu xa . Thông qua sức mạnh hành vi không lỗi lầm và qủa của họ .

Xin cho những lời cầu nguyện chân thành nầy vượt tất cả chướng ngại và thoả măn nhanh chóng trọn vẹn . 

Dalai Lama

Trở về đầu trang
-------------------------------------------------------------------

NGHỆ THUẬT THƯỞNG THỨC TRÀ

Trong những buổi phục vụ nghi thức trà thiền , Osho đă bày tỏ sự liên hệ giửa thư giản , tỉnh thức và thiền định . Đối với tất cả mọi người tách trà , hay uống trà là một việc phổ thông trên thế giới , nhưng thiền đă mang một sắc thái hoàn toàn mới , đă biến một điều tầm thường sang một lĩnh vực tuyệt diệu của một nghệ thuật về sự trải nghiệm tâm thức . Ở đây Osho tŕnh bầy nghệ thuật uống trà là cấu trúc hài hoà giửa thiền và nghệ thuật trong dạng thức như thế nạ ? . Trong những buổi uống trà ấy người đă kể những câu chuyện thiền , và những giai thoại truyền khẩu trong dân gian , để giaỉ thích tư tưởng cơ bản ẩn kín sau nghi thức uống trà như là một cái ǵ linh thiêng .

Mục đích và nguồn gốc của phong tục tập quán thiền về mỗi một yếu tố , mỗi một thành phần của con đường thanh tao , phong nhả , và sự tươi mát được kết hợp hài ḥa với những người bạn trong buổi lể trà .

Bổ sung thêm , rất có nhiều thực tập đơn giản và kỹ thuật thiền định mang lại cảm giác sự sống mới , hân thưởng , thư giản và tiến hoá thẩm định về hạnh phúc đơn sơ của đời sống . . .

Sự hiện hữu liên tục nối tiếp , tâm trí tan biến . Bất cứ khi nào các bạn dừng lại những kế hoạch dự định cho tương lai . Tâm trí không có ǵ cả ! nhưng nó là sự phóng chiếu cuả mai sau . Tâm trí vắng mặt chỉ khi nào các bạn bắt đầu cuộc sống  mới có mặt mổi một giây phút liên tục miên viển .

Sống mổi một thời khắc tiếp nối thời khắc kế .  Trong 3 tuần lể thực tập . Bạn đang làm điều ǵ - Hăy làm trong tinh thần phục vụ hoàn toàn trọn vẹn , yêu thích và thường thức như một tác phẩm nghệ thuật . Có thể bạn trông như khờ khạo ngu ngơ .

Nếu các bạn đang uống ngụm trà đầu tiên có vẻ dại khờ khi thưởng thức ngụm trà như thế ! ! ! ! . Đó chỉ là tách trà thông thường , nhưng trà tầm thường đó  có thể có một vẽ đẹp phi thường . . . Sự trăi nghiệm vĩ đại , nếu các bạn biết hân thưởng ngụm trà đâù tiên . Yêu thích ngụm trà  với niềm kính sâu xa , thay đổi hành động uống trà là buổi lể linh thiêng . Khi pha trà . . . Hăy lắng nghe ấm trà tiếng nước sôi và âm thanh . Rồi rót trà . . thưởng thức , ngửi hương vị trà . Nếm vị trà trong cảm giác của niềm vui.

Người chết không thể nào uống trà , trà chỉ dành cho những con người đầy sự sống . Thời khắc nầy các bạn sống ! ! ! . Giây phút nầy các bạn đang uống trà . Cảm giác sự biết ơn ! ! ! ! ! Và đừng nghĩ về tương lai . Thời khắc kế nó tự vận hành trong chính nó . Đừng suy nghĩ về ngày mai . Chỉ 3 tuần lể sống trong mỗi thời khắc và nh́n thấy sự việc ǵ xảy ra . . . . .

TRĂNG NGÀ.

Trở về đầu trang
-------------------------------------

OM MANI PADME HUM .

Do sự linh thiêng của ngài  Dalai Lama , một đức tính cao quư tŕ niệm thần chú “ Ohm Mani Padme Hum ” . Trong khi bạn đang làm việc ǵ bạn nên thường xuyên suy gẩm về ư nghĩa của thần chú , sáu âm thanh mang một ư nghĩa vô cùng  vĩ đại và bao la .

Đầu tiên Omm là kết hợp cuả 3 chử A - U – M . Những biểu tượng  nầy tượng trưng cho sự không thuần khiết của Thân - Khẩu - Ư của hành giả tu tập và biểu lộ sự thuần khiết trong suốt Thân - Khẩu - Ư của Đức Phật .

Thân - Khẩu - Ư không thuần tịnh có thể chuyển hoá Thân- Khẩu - Ư thuần tịnh hay  chúng nó hoàn toàn cách biệt nhau ? . Tất cả các Đức Phật đều có những trường hợp giống như chúng ta và trên con đường đơn độc  để trở thành giác ngộ , tỉnh thức ; Tín ngưởng Phật giáo không quả quyết và khẳng định rằng : Bất cứ một ai đều có tất cả phẩm tính cao đẹp phải bắt nguồn từ không c̣n lổi lầm và sự chiếm hửu .

Sự tiến triển Thân - Khẩu - Ư trong sạch phải bắt đầu từng bước nhỏ , tiệm tiến , từ bỏ trạng thái tâm khô cằn , vô vị được chuyển hoá sang thuần khiết và sáng tỏ .

Thần chú vận hành như thế nào ? . Con đường chỉ dẫn kế tiếp bởi bốn âm tiết Mani viên ngọc  cao quư , tượng trưng nhân tố cuả  phương pháp - chú tâm về ḷng vị tha để trở thành tỉnh thức , bi mẩn và t́nh thương . Giống như viên ngọc quư có tác dụng khả năng tẩy đi sự khốn khổ tâm thức . Vậy với tâm vị tha của tỉnh thức có khả năng từ bỏ đau khổ , nghèo nàn hay chướng ngại của chu kỳ chuyển động sự sống và  của  niềm b́nh an đơn độc . Tương tự giống như viên ngọc quư thỏa măn ước vọng của muôn ḷai . Vậy chú với ḷng từ trong tâm để trở thành giác ngộ và làm măn nguyện  những nguyện vọng cho tất cả chúng sanh .

Hai âm tiết Padme ư nghĩa là hoa sen kư hiệu tượng trưng cho trí huệ , giống như sen vươn ḿnh từ bùn lầy dơ bẩn , nhưng chẳng bị hoen ố bởi những khuyết điểm cuả bùn . Vậy trí huệ có khả năng đưa các bạn vào trạng thái bất nhị tương phản hay mâu thuẩn , nếu bạn không có trí huệ . Đó là sự nhận thức rỏ biết từ trí huệ vĩnh hằng . Sự sáng tỏ trí huệ nầy  từ con người  tánh không , của tự tính tṛn đầy hay sự sống có giá trị .Trí huệ nhận biết tánh không của nhị nguyên của khác biệt thực thể hay sự tồn tại giữa chủ thể và đối tượng . Trí huệ phát hiện trống trải của sự sống sẳn có và cố hữu . Sự suy nghĩ có nhiều dạng thức  trí huệ nhưng cốt lơi  những  quan điểm trên là tánh không nền tảng làm sáng tỏ trí huệ .

Thuần khiết đạt được bởi tính chất bất khả phân độc nhất cuả trí huệ và phương tiên , kư hiệu cuối cùng Hum ngụ ư bất nhị . Tùy thuộc vào hệ thống kinh điển . Sự bất khả phân của phương tiện và Trí huệ quy vào và trung chuyển như Trí huệ ảnh hưởng bởi phương tiện và phương tiện ảnh hưởng bởi Trí huệ . Trong mật điển -  Thần chú , cổ xe lớn dựa trên tâm thức rỏ biết , trong sáng mà tṛn đầy h́nh thức lẫn nội dung , cả hai phương tiện và Trí huệ như là một thực thể không khác biệt . Nhiệm vụ hạt giống phát âm tiết 5 sự chiến thắng , chinh phục , ngự chế của đức Phật . Hum là hạt giống của Akshobhya - bất động , không lay chuyển , không xúc động , mà cũng không có ǵ khuấy động bất cứ điều ǵ từ ngoại hay nội  thể .

Do đó sáu tiết âm “ Ohm Mani Padme Hum ” mang ư nghĩa độc lập trên con đường tu tập tâm linh về sự hợp nhất của phương tiện bất nhị và Trí huệ . Bạn có thể chuyển hóa  Thân - Khẩu - Ư không thuần khiết sang tâm thức thuần khiết , thấm nhuần Thân - Khẩu - Ư của sự giác ngộ . Có thể noí rằng bạn không thể nào t́m kiếm trạng thái tỉnh thức ở ngoài các bạn , chất liệu cho sự thành tựu bản thể tự nhiên vốn sẳn có trong bạn .

Đại trí văn thù sư lợi Maitreya nói rằng : “ Trong con đường cổ xe vĩ đại , uy nghi và tuyệt vời là chuổi liên tục miên viển không ngừng nghĩ . Tất cả muôn loài tự nhiên xưa nay vốn đă là Phật . Chúng ta vốn sẳn có những hạt giống thuần tịnh không ô nhiểm tiềm ẩn bên trong bản thể của ḿnh , tính chất  Tathagatagarbha được chuyển hóa và mở rộng phát triển Trí huệ trở về  bản thể tự nhiên ” .                                                

 Ánh Trăng.

Trở về đầu trang
--------------------------------------------------
 THÂN , KHẨU , TÂM CỦA ĐỨC PHẬT .

THÂN PHẬT .

Đức phật là ǵ ? . Đức phật là một người đă từ bỏ tất cả hành vi tiêu cực và khuyết điểm . Tất cả chướng ngại tri thức và  tàn dư những dấu vết c̣n sót laị . Khi một người phóng túng hành vi ô nhiểm vẩn c̣n tồn động , lưu trử dấu vết trong tâm trí mà nhiệm vụ tác động như là ngăn ngại từ sự nhận biết ; giống như khi một ai làm rớt củ hành từ bàn tay , hương vị củ hành vẩn c̣n lưu giử trên bàn tay . Đức phật đánh rơi ngay giây phút niệm cuối cùng c̣n tồn động của tri thức chướng ngại . Ngài nhận thức thực tại của hiện tượng trực tiếp và mở rộng tṛn đầy ḷng bi mẩn thông qua thiền định . Ngài làm việc miên viển không ngừng nghĩ cho ích lợi tất cả chúng sanh . Vượt thời gian vô tận , ngài đă tạo ra nhiều công đức vô hạn xuyên qua thực hành đức tính toàn thiện cho đi , đức hạnh , rèn luyện , nổ lực và thiền định với tâm vửng chắc , bền bỉ . Đó là thuốc giải độc để sáng tỏ sự sống vốn sẳn có trong bản thể tánh không .

Từ nhận định tổng quát cuả Mật điển . Ngài thiền định về thuyết du già , xử dụng trọng yếu và sức mạnh Mật điển có khả năng giúp cho một người đạt giác ngộ trạng thái đức Phật chỉ trong một đời .

Mặc dù có rất nhiều vô số Phật thị hiện ở bất cứ thời đại nào , trong niên kỷ hiện tại có 1002 vị phật xuất hiện chẳng hạn . Trong số đó có 4 vị thị hiện giác ngộ , các ngài là những người sanh ra từ bào thai để minh chứng 12 hành vi của đức Phật và hướng dẩn chúng sanh hướng về tỉnh thức . Con đường Mật điển dẫn đến giác ngộ là một sự kỳ diệu phi thường giáo lư mà đức Bổn sư để lại là một điều rất hiếm có .

Shakyamuni thuyết kinh điển để giử giới qua thị hiện thân Phật . Tuy nhiên ngài cũng dạy giáo lư  Mật điển cho những đệ tử căn cơ cao trong sắc thân của vua chúa , quan quyền , các vị thần thiền định , v́ vậy có rất nhiều phương tiện thị hiện . Suy gẩm và nghĩ rằng chúng ta có thể khám phá nhiều khuông mặt - nhưng tất cả đều là  sắc thân Phật trong tự nhiên cống hiến để tạo ra sự b́nh đẳng với tâm của chúng ta . Do đó đức Phật được miêu tả là tu sỉ  như Đức Cồ Đàm . Thần phẩn nộ như Heruka hay Guhyasamaja , những vị thần nử Dakinis , những vị thần nam , nử với h́nh tướng ghê gớm đầu thú ḿnh người như là sự kết hợp dính liền . Đó là những nhân duyên ngài thị hiện như thỏ , voi . . . Đó là sự nhắc nhở  cảnh cáo những hành vi , mà có những h́nh tướng như thế . Đó là những khuông mặt thị hiện trong đời sống  nhiệm vụ bồ tát của các ngài .

Tương tự , quán tưởng tạo thành Arhats là những người đạt giác ngộ trở thành bảo hộ tôn giáo và Lama . Sự quán tưởng được thực hiện như là tạc tượng có thể tạo bất cứ chất liệu nào chẳng hạn đất sét , đá , gổ , kim khí và không giới hạn kích thước . Tượng hoàn toàn bắt buộc trong sự cân đối . Bất cứ vật liệu nào cũng tốt , không có bức tượng nào giá trị hơn bức tượng nào bởi bằng vàng hay bằng đất sét . Cũng giống như là chân lư quán tưởng hai chiều không gian , thông thường Tây tạng  dùng mỹ thuật tranh vẻ trên vải , điêu khắc trên đá và trên vách tường .

Ngử Phật hay Pháp .

Cái nh́n tổng quát qua trăi nghiệm , Pháp là tối hậu cao quư để từ bỏ ưu phiền và chướng ngại của thức phô diển liên tục . Phương tiện đạt được chân lư cuả sự chấm dứt khổ là đi theo con đường Phật pháp .  Ư nghĩa của truyền đạt về sự hiểu biết nầy là ngữ Phật , ngữ Bồ tát được viết lại từ bao hàm cuả kiết tập và  sưu tầm kinh điển . Các ngài chuyễn đến như là Pháp . Khi Đức phật thuyết vô hạn chúng sanh t́m thấy những hữu ích có lợi nhất chính cho tự mỗi người . Có thể hiểu Pháp theo ngôn ngử riêng mỗi tâm thức , nên đó là Pháp vi diệu .

Thời gian ngài nhập diệt . Sự ghi nhớ tất cả những giaó lư được tŕ tụng trong 4 ngôn ngử  Ấn độ khác nhau , bao gồm Sanskrit . Sau nầy  các giáo lư kinh điển chuyển dịch sang tiếng Tây Tạng , Trung Quốc , Mông Cổ , Nhật . . . .

Tây tạng được nghị định giáo hội bao gồm Kangyur , ước lượng 108 tập chuyển dịch từ lời  Đức phật . Và Tengyur khoảng 200 tập với những chú thích giáo lư trong đó Kangyur được soạn lại bởi các học giả Tây tạng , Ấn độ và một vài tường thuật giáo lư được viết do những học giả sau nầy .

Gần đây nguyên bản giáo lư đức Phật bắt đầu xuất hiện chuyển ngử phương Tây . Không thành vấn đề là ngôn ngử ǵ để truyền đạt hay có một sự phân biệt bản gốc mà quan trọng là giáo lư  đưa chúng ta trở về tỉnh thức . Đó là những chủ đề phản chiếu  lại những giáo lư của đức Phật .

Ngài có 48.000 pháp môn chỉ dẫn rất tinh vi về sự phiền năo vi tế và vượt qua chướng ngại . Khi kiết tập lại cô động lại gồm  ba thừa  kinh điển , về hệ thống triết học . Bởi v́ bản gốc chính được coi như ở Ấn độ . Thừa chứa đựng những bài giảng , nghị luận , đàm luận , giải thích ba pháp tu tập về : Đức hạnh - Thiền định và Trí Huệ ( Giới - Định - Huệ ) . Thừa chứa đựng giới luật giải thích về  Giới hạnh và định . Thừa chứa đựng kiến thức giải thích sự phân chia của hiện tượng .

Khi Đức phật nhập Niết bàn , một số người than khóc . Ngài ra đi không để lại ǵ cả để biểu lộ cho thấy con đường giác ngộ . Ngài trả lời các ông  nên t́m những ǵ các ông muốn trong giáo lư , trong pháp . Hăy bắt ư đừng nương theo lời .

Để tỏ ḷng biết ơn và sùng kính hướng về giáo lư đức Phật . Một vài bản văn được ghi chép , khắc trên những thỏi vàng , bạc và những chất liệu quư giá . Đặt biệt là những bản văn về Trí Huệ Toàn Thiện .Tổng quát , những bản văn được lưu giử rất cẩn thận ở những nơi thanh cao và trong sạch để chứng tỏ ḷng sùng mộ . Trong  đền chùa , tượng Phật có thể là một h́nh thức biểu lộ nguồn gốc đối tượng về sự giúp đở và  phiá bên hông ngài  là những chồng sách và bản văn đại diện cho ngôn ngử của Ngài .

Tâm Phật .

Đại diện tâm Phật là sự tự do vượt tất cả những chướng ngại và thói quen tập quán nhiều đời , sự tiêm nhiễm kiến thức để tăng thêm sự hiểu biết . Do đó để tỏ ḷng sùng kính hướng về tâm Phật, người ta xây dựng  tháp bảo “ Stupa” .

Có nhiều khía cạnh và phương diện bảo tháp tượng để trưng cho nhiều sự việc . Chẳng hạn  10 hành vi  thiện nghiệp - ḷng bi vĩ đại và khả năng giúp đở , những hành vi và nguyện lực hữu ích cho muôn loài .

Tháp phải dựng thẳng đứng bên cạnh đức Phật  ra đời , người đă từ bỏ quyền thừa kế để đạt đến giác ngộ và đi vào Đại Niết Bàn . Rất hữu ít cho chúng ta  xây dựng  tháp bảo để gây dựng lại  những công đức của đức Phật , c̣n có ư nghĩa là  tích lũy Đức hạnh .

Ở Magadha , đất của vua Ấn độ thời đức Phật có một tháp đă củ kỷ và bị tàn phá chỉ c̣n là mô đất . Đức phật cho tu bổ , xây dựng lại tháp . Khi được hỏi tại  sao ? . Ngài trả lời rằng tháp là một di tích linh thiêng để đáp ứng những thắc mắc cuả 33 tầng trời . Đức phật giải thích những di vật ǵ nên để trong tháp.

Tất cả có 4 di vật:

1- Văn bản mật điển được viết ra trên giấy.
2- Xá lợi cuả phật như:  tóc, móng tay, những vật dụng ngài dùng.
3- Những khúc đoạn xương , răng . . . .
4- Những di tích khác được lưu giử sau khi ngài được hỏa táng thành tro .

Sau khi ngài nhập diệt và tro của ngài , rất nhiều vua chúa thời đó bàn cải để sở hửu . Các đệ tử cuối cùng phân phối bằng cách chia  tro ra làm  8 phần .

Mỗi phần được cất giử linh thiêng trong tháp trên đất nước của mỗi người Truyền thống xây dựng tháp phải đứng thẳng và để  lưu giử những vị thánh và Lama tái sinh lại .

Một vài trường hợp thí dụ ngài Dalai Lama , sắc thân ngài hoàn toàn được trân trọng cất giử như là một bảo vật linh thiêng . Tháp bảo có thể bất cứ kích thước nào và tạo thành bất cứ chất liệu ǵ . Nhưng phải phù hợp .

Những thánh cốt ngoá những 4 vật di tích miêu tả như trên . Chẳng hạn như  tượng , y phục và những thánh kinh cũng được chấp thuận .

Ví dụ ở Tây tạng  để 100 tượng đất sét được cất giử cất trong tháp .

Trở về đầu trang
---------------------------------------------------

TỰ DO VÀ THONG DONG
MỘT BÀI CA KIM CANG TỰ PHÁT
LAMA GENDUN RINPOCHE

Hạnh phúc không thể t́m thấy được ,
Qua cố gắng và ư chí lớn lao .
Mà đă sẳn hiện tiền trong sự buông xả trống trải và để mặc .
Chớ có gắng sức
Không có cái ǵ để làm hay không làm .
Cái ǵ chốc lát khởi lên trong thân Tâm
 Không có chút quan trọng thực sự nào
Không có chút thực tại nào ,
Tại sao lại có thể đồng hoá , và trở nên bám chấp .
Đặt phán xét vào nó và lên chính chúng ta ?
Tốt hơn hết là đơn giản ,
Để cho toàn bộ tṛ chơi xảy ra riêng phần nó .
Khởi lên và lặng xuống như những cơn sóng ,
Không biến đổi hay mó tay vào bất cứ cái ǵ .
Để nhận thấy rằng :
Mọi sự tan biến và lại sẽ xuất hiện như thế nào ,
Trở đi trở lại như huyễn thuật .
Thời gian không có lúc chấm dứt ,
Chỉ sự t́m kiếm hạnh phúc của chúng ta ,
Ngăn cản chúng ta thấy nó .
Nó giống như cầu ṿng sống động ,
Bạn theo đuổi mà không bao giờ nắm bắt được .
Hay như con chó ,
Rượt theo cái đuôi của chính ḿnh
Dù An lạc không hiện hữu ,
Như một sự vật và nơi chốn hiện thực ,
Nó luôn luôn hiện tiền .
Và đi cùng bạn mỗi một phút giây .
Chớ tin vào thực tại ,
Của những kinh nghiệm tốt xấu .
Chúng như khí hậu phù du của ngày hôm nay ,
Như những cầu ṿng trong bầu trời .
Muốn nắm bắt cái không thể nắm bắt ,
Bạn tự làm kiệt sức ḿnh một cách vô ích .
Ngay khi bạn mở trống và buông xả ,
Nắm tay bám chặt của sự bám nắm này .
Không gian vô biên là ở đấy ,
Rổng rang , mời mọc và thoải mái tiện nghi .
Hăy dùng cái trống rỗng này ,
Cái tự do thoải mái tự nhiên này .
Chớ t́m cái ǵ hơn nữa ,
Chớ đi vào rừng rậm um tùm .
Để t́m kiếm con voi giác ngộ vĩ đại ,
Nó vốn đă an nhiên trong nhà ;
Ở trước bếp ḷ các bạn .
Không có ǵ để làm hay không làm ,
Không có ǵ để động sức .
Không có ǵ để muốn ,
Và , không có ǵ để thiếu sót trệch sai
Emaho ! kỳ diệu thay !
Mọi sự xảy ra tự chúng .
SARVA MANGALAM ! Mong mọi sự là tốt lành .


OHM SHUNYATA JNANA VAJRA SVABHAVAT MAKO HAM .

MỘT LỜI CẦU NGUYỆN TRƯỜNG THỌ CHO 
NYOSHUL RINPOCHE .
( Và các đại sư đang duy tŕ giáo pháp trong thời đại suy đồi )
Sự chói sáng như ,
Những biểu lộ của Pháp sâu xa và rộng lớn .
Con đường hoan hỷ của Văn Thù -
Và tất cả các bậc Giác Ngộ .
Nguyện sư măi măi trong trạng thái -
AMITAYUS , VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT cảnh giới .
Không gian bổn nhiên bất biến -
Của ba Kim Cang Thừa bí mật .

SAMAYA !
 ẤN NIÊM ,
    SARVA  MANGALAM .

 

Trở về đầu trang

 
 

Webmaster@maytrang.org