Pháp Chân Thật - Kim Cang Thừa


GAMPOPA

OSHO

Trungpa

NAROPA

Mahamudra

Kalachakra

Kalachakra II

GiáoLư DaKini

Giáo Lư Bardo

Bồ Tát Hạnh

Tâm Ánh Sáng

TánhGiácLộToànThân

Trí Huệ ThẩmThấu

Con Mắt Băo

Sùng Kính Thầy

Các Vị Chân Sư 

Phô Diễn Tự Tánh

Nh́n Bạn Như Là

Bài Học Yêu Thương

ChuKỳ Ngày-Đêm

Mỗi Ngày

Nói Về Tỉnh Thức

Nỗi Sợ Hăi Căn Để

Những Chữ Vàng

Thực Hành Thế Nào

Tâm Vượt Khỏi
Tử Thần

Thượng Đế
Tại Đây

Giải Thoát
Tự
Nhiên

PHẬT TÂM

Hoang Sơ
Bừng Tỉnh

Dhammapada

Trung Đạo

Nhẹ Nhàng Hướng Về Sự Tỉnh Thức

Những PhụNữ
Trí Huệ

Một Phút Hài Hước

Một Phút Minh Triết

Tử Thư Tây Tạng

Đại Tâm Thức Nghĩ Ngơi

Lối vào Thực Tại

Con Đường TỉnhThức

Chod Mahamudra

Kho Tàng Tâm

Như Một Chúc Thư

Viên Ngọc Như Ư

Luyện Tâm 7 Điểm

Đại Toàn Thiện

Những lời Khai Thị

Lời chân Lư

m Trượng Phu

Sự Tỉnh Thức

Như Một Giấc Mộng

Như Trời - Như Biển

Con Đường Tỉnh Lặng

 Góp Nhặt

Ḷng Bi Bao La

Nghi thức

MOTHER THÉRÉSA

HERUKA VAJRASATTVA

Kim Cang Giới

KỳNguyệnHươngLinh

Cây Giác Ngộ *

Thực Hành
PHẬT PHÁP

 Thơ Văn Mây Trắng

PHẬT GIÁO *

Truyện Ngắn Trên Mạng *

Mục Tham Khảo


Mục Tản Mạn *


Link Liên kết
Thai Cực Quyền


Ḥm Thư Lưu Trữ


Dấu * chỉ đề tài mới & đang

 

 
  Padmasham  
 


TÂM GIẢI THOÁT   -   TỰ NHIÊN
ĐẠI TOÀN THIỆN

Sanskrit : Mahasan dhicittatasvanukti-nama .
Tribet : rDzogs-Pa Ch'en-Po Sems-Nyid Rang-Grol

 
 
 

 
 

Hăy Lên Cao Với Hành Vi
Để Xuống Thấp Trong Quan Niệm

 

Con kính lễ,
Bậc đạo sư ,
Chư Phật đà ,
Đạt mạ ,
Tăng già ,
Bổn tôn ,
Daka  ,
Dakini ,

 
 
 

Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ ,
Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn .
 Pháp môn vô lượng thệ nguyện học ,
Pháp trí vô cùng thệ nguyện tu .
 Như lai vô số thệ phụng sự ,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành .

 
 
 

Buông bỏ .

Phải là một sự ngừng chấp nhận trước cái “ Tôi ” . Một sự chối từ toàn bộ đối với cái tôi . Quư vị phải gieo thả ḿnh vào ḷng vị thầy mà thổn thức :

Con không c̣n ǵ nữa , chỉ có Thầy tồn tại . Xin hăy làm điều ǵ Thầy mong muốn ”

Khi nào quư vị học được việc chờ đợi , việc không thúc bách Thầy . Để biết khi nào người sẽ làm điều này điều nọ . Hoặc người sẽ giúp đở quư vị chuyện này chuyện kia như thế nào th́ quư vị mới trở thành buông bỏ .

Bản ngă quư vị sẽ chết gục - ảo tưởng của sự tự đồng hóa ḿnh với cá nhân sẽ tiêu tan , sẽ không c̣n ǵ để mong cầu .

Thế th́ - Điều đó sẽ tới vào thời điểm đă ước nguyện . 

OSHO  . 

Trở về đầu trang
------------------------------------------------
 

KÍNH LỄ  - PHỔ-HIỀN ( KUNTU  ZANGPO ) (1) - VINH QUANG .   

Từ tinh túy (2) rốt ráo thanh tịnh siêu việt khỏi tư  tưởng về đối tượng , khởi lên như vầng sáng tỉnh lặng (3) tinh tuư của Bản Tánh (4) Tự Nhiên Thành Tựu . Thanh tịnh thoát khỏi những tính cách khác nhau của nhị nguyên - Người nắm bắt và cái được nắm bắt (5). Tâm(6) thoát khỏi những  phân biệt về phương diện và thiên  chấp . Con xin tôn kính và quy mạng .

Những hiện hữu hiện tượng là vô sanh -  Tự tánh b́nh đẳng ; trong đó thuần chỉ những h́nh tướng vốn tự giải thoát và – Tâm (7)thuần không có chút nắm bắt . Với vương quyền kỳ diệu này Tâm tự nhiên giải thoát . Hăy để tôi nói cho các bạn nghe những ǵ tôi đă chứng ngộ .

( LONGCHEN  RABJAM )
SAMAYA  !
ẤN  NIÊM    -
SARVA  MANGALAM

Trở về đầu trang
-------------------------------------------------------------

SỰ  GIẢI  THOÁT BẰNG CÁCH
Chứng  Ngộ  Nền  Tảng

CHƯƠNG MỘT

Tâm giải thoát tự nhiên
Đại Toàn Thiện

Đầu tiên tưởng tượng ra một cái tôi ,
Chúng ta bám vào một bản ngă .
Rồi vọng tưởng ra một cái tôi ,
Chúng ta bám vào một thế giới bên ngoài .
Như nước trong guồng bánh xe quay nước ,
Chúng ta quay ṿng một cách vô vọng .
Con kính lạy ,
Ḷng Đại bi khởi ra cho tất cả chúng sanh .

Cái thấy rốt ráo thanh tịnh không cực biên hay trung tâm . Không thể chỉ ra bằng cách nói – “ Nó Là Cái Này ” . Cũng không có bất kỳ phân biệt cao thấp hay rộng hẹp nào . Siêu vượt khỏi thường và đoạn ; thoát khỏi nhiểm ô bốn khẳng định cực đoan (8) : “ Là - không là - cả hai - không phải hai ” .

“ T́m - Sẽ không bao giờ t́m ra ; Quan sát - không thể thấy ” . Nó xa ĺa phương hướng và thiên vị , siêu thoát mọi đối tượng của ư niệm . Nó không có – nhưng không phải không có . Nó không có lập trường , quan điểm . Không phải không mà cũng chẳng phải không không . Không chứng ngộ và không không chứng ngộ . Không tính đếm - Không mục tiêu đối tượng . Tất cả mọi hiện tượng vốn thanh tịnh và “ Giác Ngộ Một Cách Bổn Nguyên ” . Thế nên , nó không sanh diệt - Không quan niệm và diễn tả .

Trong cơi giới (9) tối hậu thanh tịnh và bất tịnh “ Vốn Tự Nhiên Thanh Tịnh ” Và - Những hiện tượng là Đại Toàn Thiện B́nh Đẳng ĺa ư niệm vọng tưởng v́ không trói buộc và giải thoát . Trong đó -  không có đi  -  đến - ở . H́nh Tướng và Tánh Không là những quy ước đặt bày .

Người nắm bắt và cái nắm bắt là huyển hóa . Hạnh phúc và khổ đau của Sanh tử và Niết bàn như những giấc mộng tốt và xấu . Từ khoảnh khắc ban đầu xuất hiện bản tánh thoát khỏi mọi tạo tác . Từ đó và trong nó nhân quả duyên sanh của khởi diệt vĩ đại xuất hiện như một giấc mộng-như huyễn , một ảo ảnh thị giác - một thành Càn Thát Bà một tiếng vang - Một phản chiếu không có thực tại .

Mọi biến cố như :  Sanh - Trụ - Dị - Diệt . Thực tánh của chúng là Vô sanh . Thế nên sẽ không diệt cũng không chịu một đổi thay nào trong ba thời . “ Chúng không đến từ đâu cũng không đi về đâu . Không trụ ở đâu và như mộng như huyễn ” .

Người u mê ; bám chấp vào hiện tượng cho là có thực và nắm bắt như một hiện tượng vật chất Có Cái Tôi và Bản Ngă Của Tôi ” ; trong khi chúng như cô gái huyễn ăo sẽ biến mất khi ta vừa chạm đến - Chúng không thật . Chúng dối lừa v́ chỉ tác động như h́nh tướng xuất hiện .

“ Sáu cơi chúng sanh - Những Tịnh độ chư Phật cũng không phải là những tập hợp nguyên tử mà là : Những sự xuất hiện của tâm chúng sanh ” . Ví dụ: Trong giấc mộng, chư Phật và chúng sanh xuất hiện như có thật - Cho dù với những đặc tính không thể nghĩ bàn . Tuy nhiên khi thức dậy chúng chỉ là đối tượng thoáng chốc của Tâm . “ Mọi Hiện Tượng Sanh Tử - Niết Bàn Phải Được Hiểu Thấu Đáo Theo Cách Ấy ” .

Không có - Tánh Không tách ĺa với những hiện tượng bên ngoài cũng như lửa và sức nóng - Những phẩm tính của lửa . Quan niệm về sự tách biệt là : Sự phân chia bởi vọng tâm . Nước và mặt trăng trong nước bất khả phân trong ao . Cũng thế,- Những h́nh tướng (10) và tánh không (11) là một trong Pháp tánh (12) vĩ đại . Những h́nh tướng ấy  không sanh tử vô thủy và “ Chúng Là Pháp Thân ” .  

Giống như những phản chiếu vốn tự nhiên không nhiễm ô và thanh  tịnh . Sự tạo tác của tâm hiện hữu và không hiện hữu là một ảo tưởng . Thế nên chớ ư niệm hóa bất kỳ h́nh tướng nào sanh khởi . Những đối tượng xuất hiện ấy cũng là những phản chiếu của tâm . Chúng như gương mặt và sự phản chiếu trong tấm gương . Trong khi tất cả vốn không nên làm ǵ có nhị nguyên .

Tri giác nhị nguyên  là đặc tính tự nhiên của những kinh nghiệm thói quen (13) từ vô thủy . Tâm và những giấc mộng không tách ĺa . Hơn nữa nó giống như sự xuất hiện những giấc mộng của người bị nhiễm độc bởi giấc ngủ .

Phải biết rằng -  làm ǵ  có phân biệt căn bản giửa chủ thể và đối tượng . Chẳng hạn như một đứa bé nh́n tấm gương , nó không biết lấy hay bỏ hiện tượng bên ngoài . Khi một bà mẹ thấy tấm gương - bà lau sạch .

Tương tự thừa nhân và quả (14) thay đổi hiện tượng bên ngoài . Một phu nhân nh́n nó sẽ lau sạch mặt ḿnh . Cũng thế người biết tánh Như (15) nh́n vào tự tâm . Đây là thừa cốt yếu - Không h́nh tướng . Trong tâm vốn vô tự tánh , những sự vật khác nhau khởi lên do những duyên như những phản chiếu xuất hiện trong tấm gương hay trong đại dương .

“ Tinh Túy Tánh Không Bản Tánh Bất Đoạn ” và tính cách xuất hiện đa thù như tṛ phô diễn huyễn  thuật là sự phóng chiếu phân hai của  sinh tử - Niết bàn trong nhất tâm . Giống như màu của pha lê bị biến đổi bởi áo đen hay trắng . Tinh túy th́ không biến đổi , nhưng do tri giác làm duyên như căn cứ của sự sinh khởi những tri giác khác nhau có vẽ như thay đổi khi chúng xuất hiện . Nhưng thực tế ; nó không thay đổi  sự thanh tịnh của pha lê . Tâm bản nguyên vốn trống không , không có gốc rễ - Không nhiễm ô bởi những h́nh tướng xuất hiện của Sanh tử và Niết bàn  .

Suốt khắp ba thời từ vô thủy - Trạng Thái Samatabhadra - ( Phổ Hiền ) . Tinh Túy Của Sự Toàn Thiện Bất Biến Tự Nền Tảng không bị nhiễm ô bởi những h́nh tướng của sáu đối tượng (16) . Như trăng trong nước những h́nh tướng không hiện hữu Sanh tử và Niết bàn như tṛ huyễn thuật . “ Chớ Nỗ Lực - Phân Biệt -  Lấy Bỏ - Phủ Nhận - Bảo Vệ - hay Hy Vọng - và E Sợ ” .

Đạt giải thoát bằng cách : Biết bản tánh của tṛ phô diễn huyễn thuật . Như thấy đạo quân huyễn hoá th́ nắm bắt . Nhưng do biết thực tại nên không có ǵ sợ hăi . Cũng thế không cần thiết phải nhất thiết chối từ những h́nh tướng đối tượng . Bản tánh của sanh tử là tinh túy của Tâm , nguyên là Không-Sanh-Và-Giác-Ngộ .

Thế nên bằng cách thấy Tâm - Sự Chứng Ngộ Bản Tánh Toàn Bộ Đời Sống Đạt Được . Bấy giờ “ Không Có Thái B́nh Nào Khác Để Thành Tựu ” . Đó như sợ hăi những lực lượng chính ḿnh lầm cho là của ai khác . Khi nhận biết như vừa được cất khỏi gánh nặng . Giờ đây ; sự ban phước của đạo sư vinh quang những tư tưởng thế gian được Chứng Ngộ Là Pháp Thân .

Thế nên đại lạc tự nhiên sanh khởi bên trong vô tận không cần chấp nhận hay chối bỏ . V́  tất cả hiện tượng sanh khởi như là Đạo sư . Mọi giáo huấn không bao giờ vơi cạn là sự nâng đở cho Giác ngộ . Sự thỏa măn trong An lạc không bao giờ chấm dứt . Tất cả đều là hạnh phúc phổ khắp trong Pháp tánh . Từ đó tṛ chơi biến đổi không ngừng những hiện tượng là Sắc thân (17) vốn tự viên thành là Pháp thân . Những h́nh tướng xuất hiện và Tánh không .

Hai sự tích tập Phước Huệ .

* Phương Tiện Thiện Xảo Và Trí Huệ .

* Thiền Định Và Ra Khỏi Thiền Định .
Tất Cả Vốn Tự Viên Thành - Một Cách Tự Nhiên .

Năm Thân Và Năm Trí Bổn Nguyên Tự Nhiên không do tạo tác được hoàn thiện trong trạng thái “ Tánh Giác Bổn Nhiên ” không chổ bám víu cho tri giác và thức . Những địa và những con đường - Sự Gom Tụ Và Tham Thiền những phẩm tính Là Tự Nhiên Hoàn Thiện Trong Tinh Túy Pháp Tánh

Tánh Giác Bổn Nhiên Tự Khởi  Vĩ Đại Không Thiên Trệ không thoái hóa biến chất bởi đối tượng được nắm bắt và không ràng buộc bởi chủ thể . Nó giống như bản tánh huyễn hoá - Bất nhị và thanh tịnh  .

Thế nên ích ǵ mà suy tính , luận bàn hay tham thiền . Không có ǵ là những giai đoạn phát triển và thành tựu . Không nhị nguyên - Không hợp nhất -Không quan điểm hay phân chia các thừa .Tất cả những cái ấy đều là những quy ước và vẽ vời của tâm thức . Tất cả là trạng thái tư hữu và vốn tự giải thoát .

Tánh giác không có vị trí , không thể định nghĩa : “ Nó Là Cái Ǵ ” . Thế nên chớ cố gắng nắm hiểu hay suy nghĩ nọ kia . V́ nó siêu việt khỏi tâm thức .  “ Tâm Th́ Không Làm  Và Vốn Toàn Thiện ” chớ làm méo mó  bằng những đối trị  sửa sang và chuyển hóa . Hăy để cho nó thong dong một cách tự nhiên .

Nếu Pháp tánh ; trong đó có chứng ngộ và không chứng ngộ là b́nh đẳng và một vị không bị biến chất , hư hỏng v́ sự nắm bắt  “ Bằng Những Rào Lưới Tham Thiền ” . Bấy giờ trong nghĩa tối hậu - Không Có Là Hay Không Là không có hiện tượng hay Tánh Không .

Nó không thể đươc định nghĩa như là : Một và nhiều  và – v. . .  v . . .  Nó siêu việt Cái Thấy Và Thiền Định thoát khỏi - Khẳng định và phủ định - Không đến và không đi . Tự do với những cực đoan , bất nhị như huyễn hoá và chỉ là giấc mộng .

Mục đích của hai chân lư (18)Ngừa Tránh Sự Bám Chấp Cho Là Có Thực . Trong thật nghĩa vốn không có tuyệt đối và tương đối . Những sự vật không hiện hữu như được lư giải . Vậy mà người ta bị trói buộc trong mạng lưới của sự nắm hiểu chúng -  Như là “ Cái Này Đây ” .

Bất cứ cái ǵ  người ta khẳng định họ rơi vào cực đoan của bám chấp và  qua những nỗ lực - Những thành tựu sinh tử sẽ không ngừng - Nghiệp tốt và nghiệp xấu làm ta măi măi lang thang trong thế giới này . Và những kinh nghiệm Hạnh phúc - Đau khổ - Cao - thấp như sự quay tṛn của một guồng nước trong sanh tử của ba thời .

Chúng sanh ba cơi lang thang trong mê vọng họ bị hành hạ bởi căn bệnh vô minh . Những tạo tác và nỗ lực không có bắt đầu và chấm dứt cho nó . Ôi ! Đáng thương thay cho những chúng sanh .

Kye  Ho !

Tất cả chỉ như mộng như huyễn trong Nghĩa Tối Hậu Không Có Sanh Tử và không ai lang thang trong đó . Tất cả vốn giải thoát trong cảnh giới Phổ Hiền ; làm ǵ  có - Căn cứ - Nguồn gốc - Hay bản chất . Thỏa Măn Biết Bao Nhiêu  !  .

Tâm không biến cải xưa nay thanh tịnh không bị nhiễm ô bởi hiện tượng hiện hữu . Giống như phản chiếu trong đối tượng xuất hiện . Không có ǵ được ư niệm hóa  để nắm bắt . Trong bản Tâm tự hữu không có ǵ để quan niệm là người nắm bắt . Trí Huệ Bổn Nguyên Bất Nhị Thường Trụ Ngoài Những Tri Giác Nhị Nguyên .

Bởi thế ! .

Tâm bất đoạn và đối tượng của nó là đại biểu tượng - Con voi của bất thủ ( sự không nắm bắt ) , rong chơi tự do trên cánh đồng bằng . Từng bước của tự giải thoát trang sức bằng uy quyền bất nhị . Nó hủy hoại đầm lầy Lấy bỏ - Hy vọng và Nghi ngờ  .

Nó sở hữu sức mạnh chứng Ngộ và đi vào đại dương bất nhị . Nó lang thang tự do mà không có những phần đoạn khác nhau giữa Sinh khởi và Giải thoát . Không bị trói buộc bởi sợi thừng của những đối tượng để Đoạn trừ và Đối trị . Nó tự do nắm giữ quan điểm thành tựu đầy quyền uy bằng cách thành tựu toàn vẹn quyền năng vĩ đại . “ Thế Giới Hiện Tượng Khởi Sanh  Là Pháp Thân ”  

Khi những tri giác của sáu đối tượng là không dứt và người tri giác rốt ráo trống không và tâm thoát khỏi những cực đoan , đạt đến Tự Do Không Mục Đích . Bấy giờ  - Tánh Giác Bổn Nhiên Bất Nhị giữa sinh tử - niết bàn đạt đến địa nguyên sơ  gọi là chứng đắc Phật Tánh . V́ sự hoàn thành tuyệt hảo mục tiêu ḿnh và người khác ; đó là chứng đắc Tịnh Độ không ǵ sánh .

Than ôi !

Những người Tham Thiền . Giống như thú vật . Khi dừng dứt tri giác và ở chỗ không có tư tưởng . Họ gọi đó là bản tánh tuyệt đối và trở nên kiêu căng . Do đạt được kinh nghiệm trong trạng thái tập trung như thế . Họ sẽ tái sanh vào cơi thú . Dù cho không lọt vào kinh nghiệm này , họ cũng không thoát khỏi tái sanh vào định sắc Sà Vô sắc giới . Không có cơ hội giải thoát khỏi sanh tử luân hồi .

--------------------------------------

Thế đấy , những người kiêu căng cùng cực . Họ bị con người quan niệm phá hoại ám nhập tuân theo những giáo lư do tri thức tạo tác và làm mê lầm . V́ những tạo tác ô nhiễm họ sẽ không thấy Pháp Tánh .

Dù họ có phân tích - Hai Chân Lư cũng rơi vào thường đoạn . Dù có phân tích “ Tự Do Thoát Khỏi  Những Cực Biên ” cũng chỉ là khám phá - Cái Thấy Tột Đỉnh Của Sanh Tử . Dù họ có làm ǵ  - V́ sự nô lệ vào quan niệm cũng không bao giờ thấy “ Trí Huệ Bổn Nguyên Tự Nhiên ” .

Nghĩa thật sự th́ không bị che ám bởi  Suy tính  - Diễn tả và những Ư niệm . Do không hiểu những đường lối đích thực của Suy tính - Kinh nghiệm và Ư niệm hoá . Sai lầm phải xảy ra .

Khi xoay chuyển nghĩa đối tượng t́m kiếm Thành Những Nỗ Lực Của Người T́m Kiếm ” . Tâm và Trí Huệ Bổn Nguyên giống như  nước và tánh ướt của nó trong mọi thời . Không có sự chia tách giữa chúng nhưng chúng bị làm hỏng v́ những phân biệt lấy bỏ  của thức tâm .

Tâm và đối tượng , bất kỳ cái ǵ xuất hiện chính là bản tánh thiết yếu . Nhưng do thiên vị nắm bắt . Tánh rỗng rang khai mở của nó bị ngăn chặn . Bây giờ , nếu các người muốn nghĩa của Pháp thân thoát khỏi ư niệm hoá (19) . Chớ nỗ lực t́m kiếm bản tánh bổn nhiên - “ Vương Quyền Của Bất Kỳ Cái Ǵ Sanh Khởi ” .

Đ́nh chỉ lập tức những bám luyến và ư niệm hay phân biệt : “ Nó Là Cái Này ” . Trong nó những hiện tượng không hiện hữu như có sinh khởi trong bản tánh của chúng . Chúng không hiện hữu nhưng lại có vẻ như hiện hữu . Tri giác b́nh thường vốn vô ngại và giải thoát từ vô thủy là cái thấy của Đại Toàn Thiện Tự Nhiên .

Bản tánh những hiện tượng ví  như Hư Không . Nhưng những hiện tượng  không thể quan niệm như bản tánh của hư không . Tâm th́ không sinh và  những hiện tượng như hư không . Có thể nói thế  nhưng  đó là những chỉ định và đặt tên . Nó tự do khỏi “ là và không là ” vượt khỏi tư tưởng . Nó không thể chỉ định bằng cách nói : “ Đây là ” . V́ nó vốn toàn thiện từ vô thủy .

Kye Ho ! .

Trong Bản-Tánh-Thanh-Tịnh-Của-Hiện-Hữu-Hiện-Tượng là Tánh Giác Bổn Nhiên Thanh Tịnh không nắm bắt và đốn giác hiện tiền từ tối sơ khởi hiện . Nó không hiện hữu nơi đâu . V́ Đại Toàn Thiện Vốn Tự Giải Thoát  và chỉ có thể thấy nó trong : Tâm Không Gốc Rể Không Chỗ Trụ - Thanh Tịnh vốn xưa nay . “ Không có cái ǵ  để làm - Và không có ai để làm ” . Thỏa măn biết bao nhiêu ! .

Tánh Giác Bổn Nhiên Những Hiện Tượng Không Mục Đích , trong đó nắm hiểu luận bàn đại loại : “ Nó - Là Thế - Là Kia ” đều tan biến  . Hạnh phúc biết bao ! .

Trong Hạnh và Quả tuyệt nhiên không có Lấy - Bỏ - Mong Đợi và Nghi Ngờ . Không có cái để đắc cũng không có cái để mất . Ấm áp biết bao ! .

Trong Bản Tánh Hoàn Toàn B́nh Đẳng Như Huyễn - Không có Tốt để lấy - Xấu để bỏ . Tôi cảm thấy tức cười ! .

Trong Tri Giác Mờ Ảo Mau Phai , không xác định  chấp vá ; không liên tục . Không ngăn ngại và tự nhiên . Bất cứ cái ǵ xuất hiện không có sự nắm bắt : “ Nó Là Cái Này hay Đây Là Những H́nh Tướng ”  ; là và không là . Đó chính là tâm nắm bắt  . Khi viễn ly tâm ấy được gọi là Pháp Thân .

Trong đối tượng không mục đích ; những h́nh tướng bất định khởi sanh . Cái biết không nắm bắt đạt giải thoát không có mặt của nhị nguyên . Bây giờ , tất cả những hiện tượng tri giác đều là : Tṛ chơi vĩ đại của Tâm thức .

Trong Tâm “ Vốn Giải Thoát Khỏi  Nền Tảng Gốc Rễ Và Bản Chất ” . Những phẩm tính tự nhiên không từ chế tạo vốn hoàn thiện trọn vẹn  bằng cách : “ Giải Thoát Chối Bỏ Và Chấp Nhận Vào Pháp Thân ” - Hạnh phúc sẽ thành tựu .

Tất cả những ư niệm luận bàn là Những Thứ Chế Tạo . Nếu bất cứ cái ǵ sanh khởi đều thoát khỏi ư niệm hóa hiện tượng . Đích thực là Trí Huệ Bổn Nguyên . Bằng cách , giải thoát : Lấy Và Bỏ Trong Trạng Thái Của Chính Nó ; đối tượng của tư tưởng được siêu thoát với : “ Phật Tánh Vốn Thanh Tịnh Rốt Ráo Và Tự Nhiên ” .

Chớ t́m kiếm ở đâu khác - Ngoài Tự Tâm các người . Ngoài chính tự nơi các người t́m  kiếm ; không có nơi tách biệt nào khác . Như giai cấp của người huyễn và như nước trong ảo ảnh . Không có nhị nguyên của Sinh Tử - Niết Bàn . Khi sự nắm hiểu nhị nguyên dừng dứt Trong Tánh Giác Bổn Nhiên Tự Hữu Không Biến Chất . Ai thấy nghĩa b́nh đẳng của tất cả hiện tượng và chứng ngộ Tâm Vô Sinh Như Bầu Trời ; chắc chắn sẽ thành tựu .

Những hiện tượng thế giới và chúng sanh là cảnh Phật Thanh Tịnh Tự Nhiên . Trạng thái b́nh đẳng  thành tựu tự nhiên vốn vô sanh . Tinh tuư những H́nh Tướng và Tâm - Là Tánh Không . Đó là nghĩa Pháp Thân . Bản tánh nó là không dứt đó là sự xuất hiện của Báo thân . Những tính cánh của chúng th́ đa dạng . Đó là Hóa Thân .

Hiểu biết như thế , mọi sự là ba thân Trí Huệ Bổn Nguyên . Tịnh độ làm ǵ có sự sửa sang , chuyển hoá , từ bỏ và đối trị . Thế nên hoàn toàn măn nguyện . 

Ema ! .

Chúng sanh bám chấp vào nhị nguyên Ta và Người khi họ ở trong Sanh tử ảo huyễn như mộng . Bất cứ nỗ lực nào họ làm đều là Nhân và Quả của Sanh tử bằng cách Kinh Nghiệm Nền Tảng Phổ Quát (20) Vô Niệm . Họ lạc vào  cơi Vô sắc .

Kinh nghiệm Thức Sáng Tỏ Trống Không  Của Nền Tảng Phổ Quát -. Họ lạc vào cơi Sắc .

Kinh nghiệm sáu thức  - Họ lạc vào cơi Dục .

Những biến đổi của Tâm là những bước đến các cơi khác của sinh tử luân hồi . Với người muốn giác ngộ nghĩa của cái tuyệt đối không biến cải là để cho Tâm thong dong không nỗ lực .

Tâm b́nh thường không biến cải và tự nhiên không nhiễm ô bởi nắm bắt Sinh Tử và Niết Bàn đạt giải thoát trong  trạng thái tự nhiên . Đạt giải thoát theo cách ấy .

An trụ trong khoảnh khắc hiện tiền không ctư tưởng là trạng thái của Pháp Thân .

Nền tảng bất đoạn của sanh tử sáng tỏ và Tánh không là Báo Thân . Và Sự Lưu Xuất Giải thoát ngay khi sanh khởi là Hóa thân . Với xác tín tự tin vào điều đó chắc chắn những tư tưởng thế gian sẽ được giác ngộ .

Kye Ho ! .

Bởi v́ tính cách của những h́nh tướng  và của tâm là biến đổi : “ Hăy Nh́n Vào Tấm Gương Của Pháp Thân Vô Trụ ”  , sự sanh khởi của  không người nắm bắt trong những hiện tượng không mục đích là bí mật của Tâm . Không có cái ǵ khác có ư nghĩa . Đó là tính cách tự nhiên Tánh Giác Bổn Nhiên Vốn Tự Hoàn Thiện . Nghĩa thiết yếu của bất kỳ cái ǵ sanh khởi . Chớ tạo những sửa sang và biến dạng .

Những hiện tượng là tính chất vô tự tánh - Bầu trời của Tâm không nắm bắt . Không có trung tâm hay chổ hết . Dù chúng sanh khởi tự nhiên không có sự sinh ra hay diệt mất . Sự vắng tuyệt bác bỏ khẳng định và bám luyến vào tính chất . Đó chính là thực nghĩa và chúng không biến đổi suốt cả ba thời .

Điều này người ta cần biết Trí Huệ Bổn Nhiên Vốn Sẵn Thoát Khỏi Nhị Nguyên  . Cái được - Tri giác và Tâm ; chỉ có thể có ư nghĩa bằng cách chứng ngộ : “ Không Có Cái Ǵ Được Chỉ Ra Và Không Có Cái Ǵ Để Thấy ” .

Tâm tuyệt đối vốn tuyệt đẹp trong trạng thái tự nhiên . Bằng những phương tiện khác nhau “ Tham Thiền Không Dao Động ; Trí Huệ Phân Tích - Những Giới Điều - Hiểu Biết Tri Thức -Và Những Giáo Huấn . Người ta chỉ đạt được cái hiểu thuộc về lư thuyết nhưng không bao giờ thành tựu : “ Trí Huệ Bổn Nguyên Trần Trụi ” .

Chẳng hạn cho dù nchỉ ra : “ Đây là hư hỏng ” ; nó cũng không phải một vật có thể thấy . Đó chỉ là một cách để phân biệt và chia chẽ .

Sự khởi lên của chứng ngộ qua ḷng tốt của Lama giống như mặt trời xua tan bóng tối , khoảnh khắc thấy tất cả là Pháp Thân . Bởi những nhiễm ô nên chỉ c̣n là những dấu hiệu của năm Trí Huệ Bổn Nguyên . Thế nên , cần hiến ḿnh cho thực hành bằng mọi phượng tiện mà không dao động . Những chứng đắc : “ Chung Và Không Chung sẽ Thành Tựu Trong Đời Này ” .

Những người ngu ; ghét sanh tử và t́m Niết bàn cũng như : Ném bỏ viên ngọc Như ư hiếm có để lấy một viên ngọc Như ư khác được gia công chùi sạch . Sau đó lại kiếm chung quanh để đổi lấy món nữ trang rẽ tiền .

Tâm Tự Giải Thoát Viên Ngọc Quư Báu bằng cách Chứng Ngộ Tự Tánh Chính Nó sẽ chùi sạch những vết bẩn mê lầm . Hiểu rằng : Nó là kho báu muôn vàn đức hạnh và là trái tim hoàn thành lợi lạc cho bản thân và những người khác .

Khi sự chứng ngộ nghĩa Tâm Khởi Hiện Như Sóng Và Nước . Những phóng chiếu và an trụ đều ở trong trạng thái Pháp Thân . Bấy giờ , bất cứ cái ǵ xảy ra không cần từ chối hay chấp nhận . “ Không Bao Giờ Cần Một Thực Hành Từ Chối Hay Chấp Nhận Nào ”  trong mọi thời với người Yogi Hoan hỉ . Nó chính  là Yoga của “ Ḍng Sông Vĩ Đại Miên Man ” .

Trong trạng thái “ Bản Tánh Toàn Thiện Vĩ Đại Hoàn Toàn B́nh Đẳng ” . Ngay khi chứng ngộ hiện khởi tâm trở nên trong trẻo và sáng ngời tự nhiên . Dù có khi trở lại sự phóng chiếu  . Nó “ Vẫn Ở Lại Trong Pháp Tánh Như  Củ ” .

Tánh Giác Bổn Nhiên Quang Minh ; không có những cực biên và trung tâm . Không có nhị nguyên của ô nhiễm và đối trị . Như vậy , những sự vật để từ bỏ những đối trị xa ĺa chứng đắc , hy vọng và nghi ngờ . Đều được giải thoát trong trạng thái tự nhiên của chúng .

Người không biết làm sao phân biệt ngọc và đèn . Nghĩ rằng : Ánh sáng đèn là ánh sáng của ngọc . Nếu không phân biệt : “ Định và Những Kinh Nghiệm Tự Giải Thoát ” . Bây giờ sẽ bị trói buộc bởi tham luyến vào Sự Giải Thoát Khỏi Ngay Chính Sự Sanh Khởi .

Nếu người ta không phân biệt giữa những Kinh Nghiệm và Chứng Ngộ ; sẽ bị mê lầm do bám trụ vào những kinh nghiệm ; và cho là đă chứng ngộ . Sau khi chứng ngộ trong mọi thời gian . Không có những thay đổi tốt và xấu . Do đạt được kinh nghiệm về điều đó . Những kinh nghiệm đức hạnh khởi lên như hư không . Trong đó bốn đại thay đổi không chịu bất kỳ biến chất nào . V́ “ Hư Không Vốn Nguyên Như Củ ” .

Cũng thế , đối với Yogi đă chứng ngộ tâm không có chứng ngộ hay và dở do tăng giảm những kinh nghiệm . Nếu có cái hay và dở . Đó chỉ là : Kinh Nghiệm Không Phải Chứng Ngộ  .

Chứng ngộ thực sự phải được t́m thấy ở bậc thánh . Sau khi thuận theo những lời dạy ; người ta cần an trụ trong tham thiền . Thiền định về nó là cái thấy tuyệt đối rốt ráo . Thấy nó ; người thượng căn sẽ được giải thoát .

Không dựa vào những kinh nghiệm tri giác mọi sự sẽ khởi sanh như chứng ngộ không có cái ǵ để từ chối . Thế nên Không Có Đối Trị Nào Để Thiền Định . Như với người khoẻ mạnh th́  thuốc thang chẳng cần . Như thế , cái mà các bạn cần học là : Cái Thấy Không Nắm Bắt - Thoát Khỏi Thiên Chấp .

“ OHM  MANI  PADME  HÙM ” 
 (Nhiều lần)

Trở về đầu trang
- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Hăy Lên Cao Với Hành Vi ,
Để Xuống Thấp Trong Quan Niệm .

GIẢI THOÁT QUA
KINH NGHIỆM VỀ CON ĐƯỜNG


Chương 2


TÂM GIẢI THOÁT
TỰ NHIÊN ĐẠI TOÀN THIỆN

 Cho người trí năng trung b́nh và kém
Sanskrit : Mahasan dhicittatasvanukti-nama
Tribet : rDzogs-Pa Ch'en-Po Sems-Nyid Rang-Grol    

Trong Thiền Định , nó là : Tự Toàn Thiện Vĩ Đại Tự Nhiên không cần sửa sang - chỉnh trị hay chuyển hóa . Bất cứ cái ǵ khởi sinh đều là : Đại Toàn Thiện Tự Nhiên không cần chấp nhận hay từ chối ; trong  chính trạng thái bổn nguyên của thế giới và chúng sanh của Sanh tử và Niết bàn an trụ như b́nh  đẳng trong : “ Tánh Giác Rigpa Bổn Nhiên ” .

Bất Cứ Cái Ǵ Sanh Khởi Đều Là Nó - Sáu thức tự phát . Hăy hộ tŕ – Tánh Giác Rigpa Không Tạo Tác như giữ ǵn một đứa bé . Nếu ở trong trạng thái Vô trụ  qua sự Viễn Ly Tâm Thức . Các bạn sẽ thành tựu một cách tự nhiên không biến đổi .

Vương Quyền Bất Khả Tư Ngh́ Trong Tâm B́nh Thường , không sanh tạo và tự nhiên  và “ Tâm Tự Nhiên ” như nước đổ vào nước . Hăy hộ tŕ  tâm bất nhị rỗng rang với những tạo tác và biến dạng . Nơi “ Tâm Không Nỗ Lực ” thường trụ trong Pháp Tánh bao la ; và trong sự rỗng rang tự do bổn nhiên thanh b́nh của Tâm . Hăy lưu lại tự nhiên và lịch thiệp như một người già .

Qua trạng thái vĩ đại tự khởi ; trong đó không có sự tuân thủ những thời kỳ thiền định . “ Tánh Giác Bổn Nhiên Tự Giải Thoát ” vĩ đại và lơ là đang ngự trị . Trong Tánh giác bổn nhiên không mục đích - Nó là Đại Vô Ngại  .Hăy hộ tŕ  Tánh giác bổn nhiên không nắm bắt ; như một người điên .

Qua Tánh Giác Bổn Nhiên Tự Giới Luật . Nó không mảy may phân biệt những hoàn cảnh xấu khác nhau . Tất cả đều khởi sanh như tṛ chơi của Pháp Tánh . Những tri giác khác nhau là tự tâm ḿnh ; sự phô diễn thần kỳ của Tánh Giác Bổn Nhiên . Hăy an trụ không sợ hăi như sư tử chúa .

Qua Đại Trí Huệ Bổn Nguyên , người nghiến nát những tri giác mê lầm “ Tánh Giác Bổn Nhiên Tự Nhiên Sanh ” khởi hiện như tự giải thoát vĩ đại . Cho đến khi  người ta làm khác được Tinh Túy Của Chứng Ngộ . Hăy Tham Thiền Với Đôi Mắt Của Chó Sói , không có khác biệt của ngày - đêm . Bằng cách đạt kinh nghiệm và sự quen thuộc .

Nếu mẹ và con được hợp nhất . Đó là – “ Trạng Thái Hoàn Toàn Giác Ngộ . Với Sự Chứng Ngộ Của Con Đường Là Một ” . Mọi sự sẽ  - Khởi sanh đồng thời trong vô tư vĩ đại . Trong “ Tánh Giác Bổn Nhiên Không Thiên Trệ ” . Không có ở giữa và những cực biên không có sự chỉ định như  nó là cái này . Hăy an trụ như hư không  .

Bấy giờ - Ư nghĩa của “ Tánh Giác Bổn Nhiên Không Thiền Định ” không do tạo tác và không biến chất . Nó là “ Tánh Giác Bổn Nhiên Tự Sanh Khởi ” . Sanh khởi bên trong một cách tự nhiên trong sự tẩy sạch tự nhiên vĩ đại . Thoát khỏi sự làm bẩn của những nhiễm ô .

Hăy hộ tŕ  Tánh Giác Bổn Nhiên Tự Nhiên  Sáng Tỏ Như Đại Dương . Tánh Giác Bổn Nhiên Giải Thoát Ngay Khi Sanh Khởi , khởi hiện như những sóng lớn . Như gương mặt trong tấm gương và sự phản chiếu của những v́ sao trong Tâm bất động và bất biến .

Hăy hộ tŕ Pháp Tánh Thường Trụ Như Núi Tu Di . “ Tánh Giác Bổn Nhiên Toàn Thiện Đồng Thời ” tự nhiên toàn thiện không hợp tạo . Trung tính và sự bất nhị của hành động và nỗ lực sẽ được thành tựu tự nhiên .

Trong Tâm Bẩm Sinh Tự Khởi Sanh Và Tự Giải Thoát . Hăy an trụ không ngừng như một ḍng sông . Bất cứ tư tưởng nào sanh khởi sẽ cùng một vị Pháp thân không cần lấy bỏ . Tất cả đều ở trong Niết Bàn trọn vẹn .Tóm lại , trong bất cứ cái ǵ sanh khởi  đều là : Tṛ chơi của Pháp Tánh .

Tự do khỏi ư niệm và tham thiền tự giải thoát được hoàn thành một cách tự nhiên bằng Cách  Kéo Dài Thiền Định Không Cách Hở . Người ta cần tu hành những thực tập của chứng ngộ không biếng lười . Để tiến bộ thực hành này , nó là chổ dựa của con đường với “ Những Hành Động Của Người Huyễn ”  thoát ngoài lấy bỏ  .

Để chuyển những bất lợi vào con đường và để hợp nhất Thiền Và Xuất Định . Hăy đi đến những đỉnh núi  , nghĩa địa , đảo nhỏ và băi chơi . Những nơi chốn làm cho tâm dao động . Hăy để cho thân nhảy nhót miệng hát những lời ca và Tâm phóng chiếu đủ thứ tư tưởng ; Hăy nấu chảy chúng ḥa với Cái Thấy Và Thiền Định Của Tự Giải Thoát Khoảnh Khắc . Bấy giờ mọi sự khởi sanh chính là con đường .

Thỉnh thoảng , hăy làm sự thực hành sùng mộ ( tri giác )  . Những hiện tượng chính là Mandala của LaMa và sự thực hành tích tập công đức . Tịnh hóa những nhiễm ô và tham thiền về vô thường .

Tất cả những hiện tượng hiện hữu bản tánh đều là mộng và huyễn .Chúng như tiếng vang , một ảo ảnh , một phản chiếu , một hoá hiện thần thông và như một ảo tưởng thị giác như phản chiếu của trăng trong nước . Bản tánh của chúng  là trống không .

Hăy tu hành những h́nh tướng đa thù là không thật và mờ ảo một cách tức thời không phân biệt hay nhận dạng chúng . Tu hành những thực tập Thiền Định Và Xuất Định Suốt Ngày Đêm Không Đi Lạc .

Trong trạng thái Lạc - Sáng Tỏ và Vô Niệm ; vốn giải thoát ngay khi khởi sinh và tự nhiên hiện tiền . Thiền định tự trụ ( tiến bộ ) bằng cách làm tan biến Những Giấc Mộng Huyễn Hóa Vào Bản Tánh Không Thực Và Sáng Ngời của chúng .

Ngày và Đêm  -   Sanh tử và Niết bàn được giải thoát trong thực tánh của chúng .
Bằng cái thấy - Người ta mở rộng sự kéo dài .
Bằng Thiền định - Người ta ngăn che dao động .
Bằng hành động - Người ta đương đầu với những hoàn cảnh .
Và bằng những kết quả  người ta tự bảo vệ không rơi vào những lỗi lầm .

Bản tánh của chứng ngộ - Trí Huệ Bổn Nguyên Vô Niệm Thường Trụ Trong Mọi Thời Gian Không Biến Đổi . Vào lúc đó thuần chỉ bản tánh đơn nhất trạng thái bổn nguyên trong Trạng Thái Không Thiền Định ; người ta bảo đảm đươc chân thường . Sau đó không c̣n quả nào hơn Đại Lạc  để t́m kiếm . Trong tánh giác Bổn Nhiên ; bất cứ cái ǵ sanh khởi đều là nó , là Ba Thân Vốn Tự Viên Thành Không Một Nỗ Lực . Sự lợi lạc của ḿnh và của người đều thành tựu .

Chỉ hiện tiền với Tánh Giác Bổn Nhiên Đầy Đủ Mọi Phẩm Tính - Công đức và Thoát Mọi Phân Biệt . Như thế một Yogi đạt đến giải thoát chỉ trong một đời này . Làm tan biến Địa đại vào trong Nước - Nước vào Lửa - Lửa vào Không khí - Không Khí vào Thức - Thức vào Tịnh quang (21) sáng rực . Rồi hợp nhất với Trí Huệ Bổn Nguyên và Pháp giới . Bảo đảm chân thường trong trạng thái tánh Bổn Nguyên .

V́  lợi lạc cho những người khác - Như một giấc mộng . Trí Huệ Bổn Nguyên và hai thân (22) xuất hiện với chúng sanh như những phẩm tính của mục tiêu : “ Làm Lợi Lạc Cho Những Người Khác ” . Đây là bản Tánh Của Trí Huệ Bổn Nhiên ; bí mật của Tâm  và Tự Giải Thoát Tưc Thời Tối thượng .

Do chứng ngộ nó , sự khai triển bao la những đức hạnh ., giống như mặt trăng non từ mồng một đến ngày rằm . Khiến đối với người ; mặt trăng dường như có tăng trưởng . Thực sự không có tăng hay giảm . Cũng thế cho dù người ta thấy gương mặt chứng ngộ và sự tăng trưởng năng lực Thiền Định .

Sự chứng ngộ không hề biến đổi . Tuy những công đức kinh nghiệm khởi lên ; như sự sáng tỏ của mặt trăng làm cho bóng tối dường như nhỏ lại . Hay v́  bóng tối của mặt trăng nhỏ đi làm cho mặt trăng h́nh như có vẻ lớn hơn . Thực ra không có ǵ khác biệt bởi v́ với sự tăng trưởng của chứng ngộ những nhiễm ô có vẻ bớt đi .

Dù cho người ta hoàn thiện những đức hạnh , từ bỏ và chứng ngộ , tinh túy không  đổi thay - Và - Bản tánh th́ không dứt . V́ Pháp Tánh Vố Thanh Tịnh Và Giải Thoát Khỏi Mọi Điều Kiện Nhân Duyên .

Tóm lại , nếu những nhiễm ô không khởi lên như hiện thực . Bấy giờ sau khi từ bỏ năm độc sẽ không c̣n con đường nào . Không có con đường tuyệt hăo nào để theo . Nếu các bạn không biết bí mật của sự tự giải thoát của Tất Cả Vào Một Thân Đơn Nhất . Bấy giờ , các bạn sẽ bị mê lầm bởi nắm bắt nhị nguyên của những nhiễm ô và những đối trị .

Nếu người nắm bắt và cái nắm bắt không được giải thoát tại chính chổ của chúng ngay điểm quyết định . Th́ dù , có nói về một quan điểm cao ; đó cũng chỉ là Những lời nói bí mật của ma .  Và dù có tham thiền tốt đẹp . Kết quả cũng chỉ là hạnh phúc của cơi cao . Bất cứ sự nỗ lực nào được làm cũng chỉ là Nguyên Nhân của Sinh Tử .

Cái thấy rộng răi - Thiền định vô trụ không mục đích . Thái độ hành xử tinh thuần và tự do với sự nắm bắt có chủ tâm là quan trọng đối với bất kỳ ai giữa những Hiện Hữu Hiện Tượng Vô Trụ Không Mục Đích .

Sự bất nhị bao la “ Giải-thoát-ngay-khi-sanh-khởi-hiện-tiền-không-dao-động ” . Đó là dấu hiệu của một thiền giả ( Yogi ) đă vượt qua đại dương sanh tử . Bấy giờ , Không có sự trói buộc chặt chẻ bởi đối tượng được nắm bắt ; và sự bám chấp vào chủ thể nắm bắt . Tất cả mọi hiện hữu trong cơi giới phúc lạc của Pháp thân đồng thời toàn thiện như không sợ hăi khi vượt qua đèo núi .

Thung lũng và hẽm núi chật hẹp - ( gặp gở trên con đường thực hành ) . Nó chính là về đến nơi sinh quán siêu vượt mọi hy vọng và sợ hăi . Thấu đạt kinh nghiệm theo lối ấy . Những dấu hiệu của bốn yếu tố như là những cấp độ chứng đắc Con Đường Không Nắm Bắt sẽ khởi lên

A-

Nghiệp lành được tích tập trước kia - Ḷng tốt của Lmma - Thời gian và thiện aảo trong phương tiện . Khi những duyên này hội đủ với nhau , bấy giờ  Tánh - Giác - Bổn - Nhiên - Tự - Hữu - Vô ngại - Tự do - Đơn giản . Nó là cái không nắm bắt ngay khi khởi sanh được trực tiếp chứng ngộ . Đó là cái thị kiến vĩ đại của “ Chứng Ngộ Trực Tiếp Pháp Tánh ” .

B-

Do xác tín : Mọi sự được gán tên bên ngoài  - bên trong là Pháp Thân . Bất cứ cái ǵ sanh khởi sẽ không có ǵ để - Lấy bỏ - sửa sang - hay chuyển hóa . Mọi sự sẽ khởi sanh như là sự thực tập của chứng ngộ . Bấy giờ khi những kinh nghiệm này được tăng trưởng . Người ta có thể , chuyển những hoàn cảnh bất lợi của xác nhận và phủ nhận những hiện hữu bên ngoài và bên trong vào con đường .

Do sự khởi lên của chứng ngộ - Giải thoát sẽ đạt được bằng cách an trụ trong nó . Lạc sẽ tựu thành  do được kinh nghiệm . Các loại Nhăn - Trí - Thần thông và v. . . v Những đức hạnh của  “ Tánh Giác Bổn Nhiên ” khởi lên . Bấy giờ , điều đó được biết như là “ Thị Kiến Của Khai Triển Kinh Nghiệm ” .

C-

Do mở rộng thêm kinh nghiệm Tánh Giác Bổn Nhiên trở thành sự sáng tỏ . Tánh Không và Trí Huệ Bổn Nguyên Trần Trụi . Trong đó không có hôn trầm và trạo cử . Không có Dao Động Và Không Dao Động . Không có cái khác nhau giữa thiền định và xuất định mà nó luôn vận hành không ngừng - Như một ḍng sông .

Khi cấp độ những đức hạnh phi thường như vậy đă thành tựu . Đó là sự đạt đến Thị Kiến Về Sự Toàn Thiện Của Tánh Giác Bổn Nhiên .

D-

Khi khôngrời khỏi trạng thái , sẽ thoát khỏi những ư niệm hóa về nắm bắt những đặt tính và siêu vượt khỏi những đối tượng tham luyến . Những cái để đoạn trừ và những đối trị . Mọi sự đồng thời toàn thiện ; thoát khỏi những nắm hiểu có chủ định và bám luyến . Những hiện hữu bên ngoài - bên trong sẽ cạn kiệt . Bấy giờ  đó là sự chứng ngộ Thị Kiến Về Sự Tan Biến Vào Trong Pháp Tánh  .

Và rồi , bằng cách đem Tánh Giác Bổn Nhiên đến chổ hoàn thiện trong bốn thị kiến (23) . Những Sắc Thân tan biến vào Pháp Thân và người ta đạt giải thoát ; bằng cách  siêu vượt những h́nh tướng trống không và nắm bắt .

Đó là sự đạt được thường hằng trong Trạng Thái Bổn Nguyên . Khi thực hành theo cách này chắc chắn sẽ không bao giờ lạc khỏi con đường . Cũng có những dấu hiệu của ba cấp độ những giấc mộng :

* Thứ nhất :

Do sự tu hành - Sự giải thoát của những h́nh tướng xuất hiện vào trong Tâm ngay lúc sanh khởi của chúng . Khi những giấc mộng xấu chuyển hoá thành giấc mộng tốt . Đó là dấu hiệu Độc Vị Của Công Đức (24) do tịnh hoá những nghiệp xấu giống như Khói Đến Từ Lửa Và Ngủ Cốc Đến Từ Hạt Giống .

* Thứ hai :

Do có được kinh nghiệm sự nhận biết những giấc mộng và giải thoát tức thời của những giấc mộng xảy ra đồng thời . Đó là dấu hiệu của giải thoát . Thậm chí bản thân cái đối trị nhận biết vào Trạng Thái Tự Nhiên Của Nó .

* Thứ ba :     

Qua quán chiếu trọn vẹn kinh nghiệm toàn bộ sẽ nhận được . Những giấc mộng ngừng dứt và ngày và đêm ở trong Tịnh Quang . Đó là một dấu hiệu đă làm tan biến những tư tưởng thế gian vào trong bản tánh của chúng . Bấy giờ - Người ta gần với sự đạt đến Niết Bàn Tối Hậu Và Đồng Thời .

Sự đạt đến thường hằng trong “ Trạng Thái Bổn Nguyên Của Tịch Diệt ” ; đă giải thoát ba cơi và ba cửa (25) trong trạng thái của ba Thân . Người ta đạt đến Niết bàn . Nó không ở trong những cực đoan của trạng thái b́nh an .

Trong Tâm không có những Kiến Lập và từ bỏ từ vô thủy . Không cần có những đối trị , sửa sang và chuyển hoá . Bởi v́  nó ở trong Bản Tánh Vốn Có Bẩm SinhTự Do Với Mọi Nắm Bắt Phân Biệt . Thế nên , nó là Sự Thành Tựu Tự Nhiên Mà Không Thiền Định cũng Không Có Ǵ Để Thiền Định .

Như thế , trong tâm b́nh thường tự giải thoát . Không có trong và ngoài và vượt khỏi cực biên của người nắm bắt và cái được nắm bắt . Xác nhận và phủ nhận đều tự giải thoát . Những nhiễm ô và những đối trị sanh khởi như là bản tánh vốn có bẩm sinh . Giải thoát mà không có mục tiêu hay đối tượng như là cái này - cái kia .

Không cần chấp nhận hay từ bỏ . Trí Huệ Bổn Nguyên Toàn Khắp Là Thoát Khỏi Phân Biệt là Đại Lạc Không T́m Kiếm Vốn Tự Thành Tựu . Nó là đại giải thoát toàn diện tự do từ vô thủy và tự nhiên .

Trong nó , không có cái nhận biết : “ Ai ” ( chủ thể ) ; “ Cái này ” ( hành động ) hay “ Chúng nó ” ( những đối tượng ) . V́ nó là vô trụ không mục đích thoát khỏi  nắm bắt và siêu vượt những cực đoan “ Có ” – “ Không ” .

Kye   Ho ! ,

Do sự giải thoát toàn bộ từ vô thủy “ Tánh Giác Không Nỗ Lực ” giải thoát trong trạng thái b́nh đẳng . Sự thống trị vốn tự thành tựu không sinh diệt .  Thế nên , nó không trụ , không thể tri giác và bản chất của nó không thể giải thích . Mọi Sự Đều Trong Trạng Thái Vô Tác Và Là Thật Tánh .

Ho !

Trong Tri Giác Vốn Tự Nhiên Và Thanh Tịnh Từ Vô Thủy Khởi Hiện Tánh Giác Bổn Nhiên Kỳ Diệu - Khiến cho người ta phải bật cười . Không Có Nhị Nguyên Của Tâm Và Đối Tượng Của Tâm Người Tri Giác Vốn Vô Tự Tánh . Nó không thể được chỉ định bằng cách nói : “ Nó là cái này ” . mà nó hoàn toàn tự do trong cái không mục đích và hoàn toàn vĩ đại .

Nó là trạng thái đơn nhất của Phương Tiện và Trí Huệ  Đồng Thời Toàn Thiện . Mọi sự th́ không biến đổi  và an trụ b́nh đẳng như chúng vốn là . . . Trong nó , không quan niệm những khác biệt cnhững hành tinh , ngôi sao , ngày tháng hay thời gian . Nó-Siêu-Vượt-Thời-Gian-và-Sự-Tính-Đếm-Thời-Gian . Bốn châu lục không hiện hữu . Núi Tu-Di , mặt trời , mặt trăng là trống không .

Không có Mandala để quan niệm . Không có tŕ tụng hay thực hành những sự khổ hạnh . Không có những đối tượng để quan niệm . V́ chúng là trống không , thanh tịnh trong h́nh thức những kinh mạch - tính chất và luân xa (đám rối thần kinh ) .

Dù những đối tượng bên ngoài tự xuất hiện ; chúng vẫn không bị ư niệm hóa  . Thế nên , toàn cơi thế gian và năm đối tượng (26) “ Trống Không Trong Tinh Túy ” . Mọi sự không sanh khởi  . V́ chúng là : “ Lâu Đài Trang Nghiêm Tự Sanh Khởi ” . Không có người sáng tạo ; v́ chúng là : “ Hóa Thần Của Ư Nghĩa Tuyệt Đối ” .

Sự phóng chiếu và thu hồi của những tư tưởng là tṛ chơi vĩ đại của “ Trí Huệ Bổn Nguyên ” . Những tích tập vĩ đại được hoàn thiện . Những âm thanh -, lời nói đều là đại thần chú . Những nhiễm ô sanh khởi tự nhiên như Trí Huệ Bổn Nguyên . Đây là , giai đoạn thành tựu tự sanh không cần những hành động và nỗ lực .

V́ nó “ Tự Nhiên Vốn Thành Tựu ” . Nên nó là trạng thái vượt qua ( Ba la mật ) . Sự hoàn thiện của những giai đoạn và con đường . Nó không trụ khoảng giữa v́  nó là sự hợp nhất thuần túy không một vi trần của nhiễm ô , đối trị hay lỗi lầm che ám .

Thế nên , “ Thiền Định Của Bất Kỳ Cái Ǵ Sanh Khởi ” được tự nhiên thành tựu . Không cần sức lực . Những hiện tượng đồng - dị  , và nhân - quả của thiện hạnh trắng và ác hạnh đen tác động như duyên khởi . Thuy chúng vô tự tánh nhưng cũng không ngừng xuất hiện như những phản chiếu .

Thế nên , người ta cần biết sự tự giải thoát toàn thể siêu việt ; do nghiệp tốt và nghiệp xấu nên “ Những Thế Giới Cao Và Thấp Được Kiến Lập ”  . Nếu nghiệp được siêu thoát Niết Bàn Tự Nhiên Sẽ Được Đạt Đến  . Nếu thực hành chấp nhận hay chối bỏ . Chắc chắn sẽ thoát khỏi sự bất thiện .

Nhưng cho dù có thực hành thiện hạnh ; không nên bị ràng buộc bởi tham luyến thiện hạnh  . Về sau cần t́m kiếm ư nghĩa của tự do khỏi chấp nhận và chối bỏ . Người ta cần lấy những bậc thánh làm gương mẫu và cần phải thực hành như thế . Thế nên , hăy từ bỏ những hoạt động vô nghĩa và mê lầm của trẻ con . Hăy luôn luôn sống cùng người hiền thánh . Hăy theo những thực hành sơ bộ ( Sngon-Gron ) để không c̣n  lầm lạc về chứng ngộ .

Nghe và suy nghĩ . Hăy kiên định chịu đựng những hoàn cảnh khắc nghiệt một ḿnh  trong chốn núi non hẻo lánh với quyết tâm nhận được Chân tánh . Hăy làm giảm những lăng xăng và trù tính bằng cách suy nghĩ và lo sợ về vô thường .

Thực hành Pháp với nỗ lực bằng trái tim ḿnh là cốt yếu . Nếu trong đời này người ta không thể tiến hành giải thoát . Chắc chắn sau này khó t́m được đời người tự do (27) - thuận lợi (28) và chánh Pháp .

Hăy kéo lên ngọn cờ chiến thắng của thực hành trong một chốn cô đơn và kiểm điểm điều ǵ ḿnh đă thành tựu . Nếu chưa chết lúc này . Nếu dùng ngày và đêm ở trong pháp theo cách như vậy ; cho dù bị mất thân thể như huyễn .

“ Tâm Không Có Sanh Không Có Chết ” sẽ bảo đảm cho sự trị v́ củ a “ Pháp Bất Biến ” . Thế là cuộc đời này sẽ đầy ư nghĩa và  sự thành đạt tối thượng sẽ hoàn thành .

Dù người có trí trung b́nh và kém , đạt thành quả giải thoát trong trung ấm ; sẽ thành tựu quả trong đời kế tiếp . Họ vẫn t́m thấy con đường giải thoát khỏi nhân quả sanh tử và đạt được thành tŕ của Tâm trong xứ sở Đại Lạc . “ Đây Là Trái Tim Của Nghĩa Tuyệt Đối ” .

Nếu đi con đường lầm lạc có nhiều che ám của sai trệch . Người ta sẽ không bao giờ thành tựu “ Bản Tánh Như ” . Họ mệt mơi trong đời này và không bao giờ có kết quả trong đời tới . Bởi thế , cần t́m kiếm Cái thấy và Thiền Định không sai lầm .

* Nếu sự tu hành của người ta không có những tư tưởng Từ - Bi  và Bồ Đề Tâm . Chắc chắn đó là con đường khác với đại thừa .

* Nếu thực hành đến một mức tâm trở nên khô cứng . Chắc chắn , sự thực hành Pháp và hành giả , cả hai đang đi trên những con đường tách biệt .

* Nếu bám luyến vào những thứ thiền định bên ngoài , bên trong và chặng giữa . Chắc chắn không có cơ hội chứng ngộ tánh bất nhị .

* Nếu không nhớ khẩn thiết phải thoát khỏi và ghê sợ sanh tử . Chắc chắn bị mê lầm bởi ma của sự bám luyến vào cuộc đời này .

* Nếu không có đạt được ǵ mới trong Thiền định . Chắc đă có những trệch sai và che ám như hôn trầm và trạo cử .

* Nếu  “ Tánh ướt ” của an định không thấm nhuần quán chiếu . Đó không phải là  thiền định quán chiếu mà chỉ là một h́nh dung của chứng Ngộ .

*  Nếu nói về bất nhị , từ hiểu biết  tri thức ; mà không thể giáp mặt với những hoàn cảnh không thuận lợi . Bấy giờ , cái bất nhị tri thức ấy chỉ là chổ dựa cho năm độc tăng trưởng .

* Nếu sức mạnh của thiền định quán chiếu không nâng đở cho thiền định an định . Đó không phải là “ Thiền Định An Định ” ; mà chỉ là trụ trong vô minh . Cho dù đạt được vững chắc , đó chỉ là nhân của những cơi cao .

Đối với Định nằm trong hôn trầm , trạo cử và giải đăi  . Đó chỉ là thiền định của loài thú . Chớ bao giờ bị hấp dẫn bởi sức mạnh Trí Huệ Bổn Nguyên Của Quán Chiếu . Một khi chứng ngộ không dấu vết dơ nhiễm qua lời thuyết Pháp của các bậc Thánh . Nên chuyển mọi loại thiền định thành những hỗ trợ cho giác ngộ . Lạc Sáng Tỏ Và Vô Niệm không do tạo tác sẽ khởi hiện bên trong . Nếu khác đi , chắc chắn không phải là chân lư tuyệt đối .

* Nếu không hiểu bí mật của “ Tánh Giác Bổn Nguyên ” ngay bây giờ . Họ sẽ bám vào thiền định và bị trói buộc bởi chuổi xích của chấp nhận và chối bỏ . Rất ít sự thuận lợi xảy đến  và những cái không thuận lợi sẽ đến nhiều như mưa .

Những ước mong sẽ không thành  và luôn luôn bị sợ hăi quấy rầy . Dù cho “ Lạc Sáng tỏ và Vô Niệm ” được phát minh bởi “ Thân - Ngữ - Tâm ” ; cũng như b́nh quư nằm trong tay đứa trẻ . Chắc chắn không lợi lạc v́ quyết định nó sẽ vỡ .

“ Nguồn ” , không do tạo dựng bất hoại của những chứng đắc . Sự chứng ngộ tinh túy tự nhiên là quan trọng . Dù có điều thân , im lời . Làm linh hoạt tâm . Ngăn ngừa mhững tư tưởng và đâm xuyên với ngọn giáo củ a sưự  “ Tỉnh giác - Trong sáng - Sống động ” .

Ngăn ngừa những ư niệm và cảm giác  trong trạng thái nắm bắt . Người ta chỉ thành tựu những cơii sắc và vô sắc của sinh tử . Đối tượng bên ngoài những giác quan . Những tri giác không ư niệm và sáng trong .

Trạng thái “ Trí-Huệ-Bổn-Nguyên-Vĩ-Đại-Tự-Giải-Thoát-Của-Năm-Độc-Và-Trí-Huệ-Bổn-Nhiên-Vi-Tế-Thanh-Tịnh-Không-Hôn-Trầm-Trạo-Cử ” ; được một số người , xem như đối tượng để đoạn trừ gọi là : Những đoạn trừ  “ Rất thô - Thô Và Vi Tế ” . Nhưng những con lừa ấy vẫn cố gắng t́m mọi cách để chối bỏ chúng .

Gom tụ những tư tưởng đă qua bằng những tư tưởng kế tiếp và chỉ định bằng cách phải kinh nghiệm điều đó . Nói rằng : Họ thấy nghĩa vốn sẵn xưa nay . Như thế đồng nghĩa đanh tính đếm những sanh khởi và dừng diệt “ Những Tư Tưởng Tiếp Tục Những Tư Tưởng ” . thế rồi tiếp nhận chúng như nghĩa của bất nhị . Nên biết Thiền Định Này Là Mê Lầm .

Dù cố gắng thiền định bao nhiêu . Nếu từ mạng lưới tư tưởng “ Trạng Thái Định Ở Sau Khởi Lên Trên Sự Dừng Dứt Của Những Tư Tưởng Trước ” . Dù xem “ Sự Dừng Dứt Này Là Giải Thoát ” . Nó chỉ là “ Những Tư Tưởng Nối Tiếp Nhau Chẳng Phải Là Giải Thoát ” .

Trong con đường của phương tiện thiện xảo (29) buông thả cho “ lạc ”   của những giác quan là sự thqm luyến nhục dục . Thế nên , trong hầu hết trường hợp đó là: Nguyên nhân ái sanh vào cơi thấp . Cho dù đạt đến những cơi hạnh phúc rồi cũng tái sanh vào cơi thấp .

Phương tiện thiện xảo là con đương rất ít Yogi thực hành . Trong con đường này có những nguy hiểm lớn lao của những sự che ám làm trệch lối ; và rất khó khăn để thấy nghĩa của chứng Ngộ .

Chuyển tiếp lần lượt mà không cần hợp nhất hai sự tích tập các giai đoạn phát triển và thành tựu với  những quán tưởng không có những quán tưởng . Do một ít người tuyên bố là thật nghĩa và bám dính vào đó  

Nhưng những điều nay , rất ít lợi lạc và sự thực chỉ có thể đạt đến những cơi cao nhưng không thể châm dứt sinh tử . Tóm lại - Người tích tập được ít phước tài tốt đẹp và đi vào những con đường thấp , lạc hướng và sai trệch . Họ đáng thương biết bao nhiêu .

Nguyện

Lúc tất cả chúng sanh t́m thấy những con đường tuyệt hăo theo đó đạt đến giải thoát . Bất kỳ ai có tánh không với đại bi không lầm lạc và pháp giải thoát tức thời . Họ đang ở trên con đường đi đến Pháp thân tự trụ .

Sự hiển lộ của nó là trí huệ quán chiếu trần trụi ; v́ nó là nơi an trú và chính là phương tiện của trạng thái b́nh đẳng an định . Nó là tự nhiên , hợp nhất và thoát khỏi mọi tạo tác và biến chất .

Sự thay đổi tạo ra dao động và vững chắc và vượt qua chính nó . “ Sự Tạo Tác Và Biến Chất ” trong trạng thái không hôn trầm , trạo cử thoát khỏi gốc nhiễm ô . Bất cứ cái ǵ khởi sanh chính là  Pháp Thân Tự Giải Thoát . Nó tự biểu lộ nhưng hằng ở  trong trạng thái bất nhị b́nh đẳng . Không cần lấy bỏ v́ nó là nghĩa của chân tâm . Trong tánh vốn sẵn đủ Trí Huệ Bổn Nguyên Của Pháp Tánh . Xin hăy tu hành không gián đoạn .

Đây là sự tự giải thoát của bản tánh tuyệt đối vốn sẵn . Nó chính là Thiền Định tối thượng sâu mầu và tuyệt hăo . Tinh túy của trái tim cô đọng được lập đi lập lại . Nó là tinh  túy của tất cả đỉnh cao của “ Chân Lư Kim Cương Tối Thượng ” .

Trở về đầu trang
-  - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Hăy Lên Cao Với Hành Vi
Để Xuống Thấp Trong Quan Niệm

KẾT    QUẢ
ĐẠI THÀNH TỰU TỰ NHIÊN

CHƯƠNG  3

TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN
ĐẠI TOÀN THIỆN .

Sanskrit :
Mahasan dhicittatasvanukti-nama .
Tribet :
rDzogs-Pa Ch'en-Po Sems-Nyid Rang-Grol

Kết quả thành tựu tự nhiên có hai phương diện :

*  Lập tức ( hay tạm thời ) ,
*  Và tối hậu .

Với cái lập tức .

Bằng cách thiền định về cái thấy người ta sẽ hoàn thành những đức hạnh . Những nhiễm ô của tâm thức nhị nguyên được giải thoát trong Trạng Thái Tự Nhiên Của Chúng . Sự ổn định vững chắc trong sự tương quan . Những hiện tượng bên trong và bên ngoài sẽ được hoàn thành . và sẽ hoàn thành : Nhăn , trí và thần Thông . Có nghĩa chứng ngộ đă khai triển .

Ḷng bi v́ những người sẽ khởi sinh . Lúc đó trong Trí Huệ Bổn Nguyên Tức Thời Của Tánh Giác Bổn Nhiên xếp thành những khía cạnh khác nhau . Thế là những đức hạnh sau đây hiện tiền :

- Những H́nh Tướng Xuất Hiện Như Phương Tiện Thiện Xảo .

- Giai Đoạn Phát Triển Là Sự Tích Lập Công Đức  .

Qua đó ,
Người ta đạt sự từ bỏ những ư niệm phiền năo ;
và những tư tưởng được nắm bắt .

Tánh không như là trí huệ và giai đoạn thành tựu là sự Tích Tập Trí Huệ Bổn Nguyên  . Qua đó người ta đạt giải thoát ; thoát khỏi những nhiễm ô tri thức bẩm sinh và những tư tưởng nắm bắt :

“ Keo kiệt - Không đạo đức - Giận dữ - Giải đăi - Phóng dật - Kém trí - Không phương tiện - Yếu đuối - Không hứng khởi - Vô minh ” .

Những trạng thái thanh tịnh của mười khía cạnh là :

“ Sự thành tựu Bố thí - Giới luật - Nhẫn nhục -Tinh tấn - Tham thiền - Trí huệ - Phương tiện thiện xảo - Thần lực - Nguyện vọng - Và Trí Huệ Bổn Nguyên ” .

Mười hoàn thiện khi chứng ngộ sanh khởi do ḷng tốt của Lama :

Sự Khai Triển Của Niềm Tin Tối Thượng là “ Hoan Hỉ Địa ” .
Sự Giải Thoát Của Nhiễm Ô là “ Thanh Tịnh Địa ” .
Trí Huệ Bổn Nguyên Phúc Lạc Trong Sáng Vô Niệm là “ Phát Quang Địa ” .
Tự Giải Thoát Của Những Tư Tưởng Phóng Chiếu là “ Diệm Huệ Địa ” ( Địa Sáng Rực ) .
Mục Tiêu Không Ǵ Ngoài Những Bậc Thế Tôn là “ Nan thắng Địa ”
( Địa Vô Địch ) .
Hiện Thực Hoá Chứng Ngộ là “ Hiện Tiền Địa ” ( Địa Hiện Thực ) .
Giải Thoát Khỏi Sanh Tử là “ Viễn Hành Địa ”
( Địa Rong Chơi Xa ) .
Sự Chứng Ngộ - Không C̣n Biến Động Như Núi Tu Di là “ Bất Động Địa ” .
Tối Thượng Của Tất Cả là “ Thiện Huệ Địa ” .
Tràn Ngập Khắp Bầu Trời Của Tâm là “Pháp Vân Địa ” .

Sự hoàn thiện của tích tập Công đức Và Trí Huệ Bổn Nguyên là con đường “ Tích tập ” và “Áp dụng ” ( Tư lương và Gia vị hạnh ) .
Thấy và trải nghiệm nghĩa chứng Ngộ là con đường “ Thấy ” và “ Thiền Định ”        ( Kiến đạo vị và tu tập vị ) .
Sự giải thoát được gọi là giai đoạn của  “ Kết quả ” ( Cứu cánh vị ) .
Tự do với ba độc trong Tánh Giác Bổn Nhiên là nghĩa của ba tạng .
Cũng như thế , sự tịnh hóa tánh giác bổn nhiên của ba cửa là sự hoàn thiện của ba học  “ Giới - Định - Huệ ” .
Giải thoát mọi sự trong tánh giác bổn nhiên là “ Kriya Yoga ” , cũng là “ Carya Yoga ” .

Đạt đến quán chiếu chứng ngộ là “ Yoga Tantra và Anuttara Yoga ” .

Thế nên ,
Bốn Tantra này được thành tựu trong Tánh Giác Bổn Nhiên . Lợi lạc cho ḿnh trong Tánh Giác Bổn Nhiên là những thừa của Thanh Văn - Bích Chi Phật .
Lợi lạc cho người khác là  đại thừa và sự chứng ngộ là “ Kriya Tantra ” .
Kinh nghiệm của Thiền định là “ Upatantra ”  ;
Và thọ hưởng của nó là “ Yoga Tantra ” .
Phương tiện thiện xảo và Trí Huệ là “ Maha Yoga và Anu Yoga ” .
Tất cả chín thừa tương đương với tự toàn thiện “ Ati Yoga ” ( Đại Toàn Thiện ) .

Sự nhớ  ( niệm ) và Tham Thiền với tinh túy của Trí Huệ Bổn Nguyên Hiện Diện Trong Tánh Giác Bổn Nhiên như là : Những phần của tự giải thoát tức thời . Có nghĩa , những giai đoạn ; những con đường và giác ngộ đồng nhất trong “ Tánh Giác Bổn Nhiên ” .

Trí huệ bổn nguyên vốn sẵn đủ ,
Tâm giác ngộ và đại  ấn ( Mahamutra ) .
Đều hoàn thiện trong tánh giác bổn nhiên ,
Như sự thành tựu vĩ đại tự nhiên .

--------------------

Pháp Thân
Trong quả tối hậu
:

Trạng Thái Bổn Nguyên Không Trụ Trong Trạng Thái Cực Đoan là cảnh giới Phật của Pháp thân không thể quan niệm và không thể diễn tả .

Khi Pháp giới và Trí Huệ Bổn Nguyên trở nên không thể tách ĺa đó là đạt được giác ngộ viên măn . Ba thân tự nhiên thành tựu trong Trí Huệ Bổn Nguyên Vi Tế . Trong cơi giới như bầu trời . Bản Tánh Toàn Giác xuất hiện trong trạng thái tự hiện khởi không có những thành tựu và những từ bỏ .

Thế nên nó là :

“ Pháp Tánh Tự Nhiên Thành Tựu Không Sinh  Diệt ;
Bản Tánh Như Hư Không ” .
. 

Báo Thân
Từ trạng thái ấy xuất hiện
:

1-
Cơi Phật thanh tịnh trang nghiêm tuyệt đẹp .
Mandala tự xuất hiện rực rỡ và thành tựu tự nhiên  .

2-
Cùng với những Đạo sư của năm bộ ( 30) :
- A súc ( S.Aksohya ) .
- Bất không Thành Tựu ( Amogashiddhi ) .
-Bảo Sanh ( Ratnasambhava )  .
- A-Di-Đà ( Amitabha ) .
- Tỳ Lô Giá Na ( Vajrocana ) .
Với đầy đủ tướng hảo ánh sáng chiếu soi .
Mỗi vị thọ hưởng bản tánh cơi giới tối hậu :
“ Đại Viên Cảnh Trí - B́nh Đẳng Tánh Trí –
Diệu Quan Sát Trí -Thành Tác Sở Trí ” .
Năm Trí Huệ Bổn Nguyên .

3 –
Với quyến thuộc đệ tử tự tri giác mười phương bốn thời (31) .
Những Mandala của chư đạo sư năm bộ
Nhiều như chậu chứa đầy những hạt mè .
Những vị khắp không gian mười phương .
Những cửa lớn - Khung cửa - Cửa gió và Hàng rào
của những lâu đài đẹp rực rỡ phù hợp với mỗi bộ .
Mọi sự đều thành tựu tự nhiên , trong bản tánh trong
 “ Một Mandala Duy Nhất ” .

4- 
Khắp nơi –
Không biên giới hay trung tâm ;
Đều thấm nhuần những giáo lư
Toàn Thiện B́nh Đẳng .

5- 
Ba thời ,
Thời gian và Phi Thời gian là :

 “ Thời Gian Của Phổ Hiền ” .

Nó là trạng thái Vốn Thành Tựu Xưa Nay
Và Bất Biến .

Hóa Thân
Từ trạng thái ấy biểu lộ
:

Năm loại Tịnh độ của chư Phật Hóa thân tự nhiên :
Ogmin - Ngon-ga - Rinchen Yongkang -Pematseg - Lerabtrub .

Trong đó ,

Những đạo sư của năm bộ trong tất cả ba thời phô bày : “ Sắc Tướng Như  Gương Tuyệt Hảo ”  cho đến địa thứ mười và có thể đến địa thứ mười một : Địa Hoàn Toàn Sáng Chói ” . Những Tịnh độ này xuất hiện cho những “ Đứa Con Thanh Tịnh Của Bậc Chiến Thắng ” .

Từ những tia sáng phát từ miệng những sắc tướng Báo thân trong sáu cơi :
Chư thiên - Bán thiên - Người - Thú - Quỷ đói - Địa ngục .

Biểu lộ những sắc tướng của sáu vị Phật
Gyachin - Thegzang - Sakyamuni - Seng-ge Rabten - Khabar Deva - Awa Lang-go .

Các ngài hoạt động cho lợi lạc của những chúng sanh bất tịnh y cứ nơi cảnh giới tối hậu b́nh an . Những Hoá thần khác nhau như những h́nh thức nghệ thuật và sự sanh ra như :

Chúng sanh - Những  ao - cầu - hoa sen –
Cây như ư - Dược liệu - ngọc và đèn .

Cung cấp nguồn hạnh phúc và hoan hỉ cho tất cả chúng sanh và đem đến cái tốt tối hậu ( giác ngộ ) như kết quả rốt ráo . Sau khi giải thoát hết đệ tử những đạo sư sẽ tan biến vào Pháp Giới . Điều này được hiểu theo ba phương diện :

a/-
Sự tan biến của những :
“ Hóa Thân Khác Nhau và Những Hoá Thân Chinh Phục Chúng Sanh ”
.
Như khi không có đồ chứa nước ( đệ tử ) sự phản chiếu sẽ tan biến .
Đó là sự phóng chiếu và thu hồi tṛ chơi của cái Tự nhiên .
Hóa Thân chỉ là tṛ chơi .

b/-
Khi những người trong địa vị đệ tử đă an lạc ;
“ Đạo sư ”  và năm Hóa thân tự động tan vào :
“ Báo Thân Tự Biểu Lộ Vốn Không Phân Cách ” .
Như sự tan biến của trăng non vào không gian .

c/-
“ Báo Thân Tự Biểu Lộ ”
tan vào cơi giới Pháp Thân .
Bấy giờ nó không xuất hiện bên ngoài ;
mà tan vào bản tánh nến tảng của nó .
Đó là Mandala vĩ đại .
Không trụ trước hay sau - tăng hay giảm hoặc biến đổi .
Nhưng dù khuyết hay đầy bên ngoài  “ Mặt Trăng Vẫn Là Một ” ;
Và chỉ  cần một đệ tử cầu pháp .
Các thân sẽ xuất hiện lại như trước .
Đây Là Những Kết Quả Của Giải Thoát Viên Măn .

Lời Kết

Như thế ;
Lời dạy này “ Tinh Tuư Của Mặt Trời ” ;
Được soi sáng bởi sự mọc lên của Ánh Sáng Rực Rở Không Ô Nhiễm (32) .
Ngày nay ;
Trong thời đại chiến đấu khi người ta bị bao bọc trong bóng tối của tà kiến .
Để xua tan những thứ ấy - Con đường tuyệt đối này được viết ra .
Do công đức tạo luận ;
Nguyện ;
Tất cả chúng sanh đều giống bản thân tôi
Đồng Giải Thoát Trong Trạng Thái Bổn Nguyên ;
Không sót lại .
Nguyện cho họ ;
Hoàn thiện trọn vẹn những phẩm tính của từ bỏ và chứng Ngộ ;
Và trở thành những vị nắm vương quyền của Pháp -
Hoàn Thành Tự Nhiên Lợi Lạc Cho Chúng Sanh  .

( Lời dạy DZOGPA CHENPO (Đại Toàn Thiện) về - Tâm Giải Thoát Tự Nhiên được Yogi Trimed Dzer ( Longchen Rabjam 1308 - 1369 ) giảng  . Người đă được Acarya Padmasambhava Vinh Quang Vĩ Đại ban phước v́ lợi lạc ) .

Thursday, November 13 , 2002 Của những thế hệ tương lai ở trên đỉnh thánh  siêu tuyệt . Thành tŕ Orgen và hoàn thành trên đỉnh Kangri Thodkar .

NGUYỆN ĐƯA ĐẾN ĐỨC HẠNH .
SAMAYA !
ẤN  NIÊM ,
SARVA  MANGALAM

- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Chú Thích

1- Kuntu Zangpo , S.Samantabhadra . Danh hiệu của Phật Bổn Nguyên = Sự hợp nhất của cơi giới tối hậu và Trí Huệ Bổn Nguyên của chân lư tối hậu .

2- Ngo-Bo , S. Bhava . Bản tánh , tính chất và Bản Tánh Của Những Hiện Hữu . Trong bản văn có chổ dùng là tinh tuư .

3- GDangs  . Vầng sáng bên trong hay tự nhiên , sự sáng tỏ tối hậu vi tế , bản tánh sáng ngời ; năng lực , sự sâu thẳm tối hậu bên trong hay vi tế .

4- Rang-bzhin , S. svabhava . Là tính cách của những hiện tương . Trong bản văn dịch là bản tánh .

5- Gzung Drin , sự bám nắm và người bám nắm cái được nắm bắt và người nắm bắt , tri giác hay sự nắm hiểu thuộc về chủ thể và đối tượng .

6- Sems-Nyid , S. citta . Nó là bản tánh tuyệt đối của Tâm . Tâm tánh ; Tâm như vậy ; thật tánh của Tâm ; Tánh Giác Bổn Nhiên ; tinh tuư của Tâm . Trong bản văn được dịch đơn giản là Tâm .

7- SNang-Sems . Những h́nh tướng xuất hiện và Tâm , “cái được tri giác và Tâm ” những h́nh tướng đối tượng và tri giác của chủ thể . Trong bản văn hầu hết dịch là tri giác .

8- Là , không là , cả hai và không phải cả hai .

9- DBings (Ch'os Bying) , S. dharmadhatu . Cơi giới , cảnh giới tối hậu .

10- sNang ( -Ba ) , S. avabhasa . Những h́nh tướng ; cái được tri giác ; những hiện tượng bề ngoài hay như huyễn , chân lư tương đối .

11- sTong ( -Nyid ) S. sunyata . Tánh không ; bản tánh chân thật ; sự rỗng rang ; chân lư tuyệt đối .

12- Ch'os-Nyid , S. dharmata . Bản tánh tuyệt đối của những hiện hữu , Pháp Tánh ; Tánh như .

13- Bag-Ch'ags , S. vasana . Những dấu vết hay thói quen (tập khí) do những hành động và kinh nghiệm quá khứ tạo nên .

14- Gyu-'Bras (Kyi) Theg-pa . những thừa Nhân và quả .

Thừa Nhân là con đường chung của tu hành Phật giáo - Tiểu thừa và Đại thừa . Thừa Quả là con đường của tu hành tantra hay Kim Cương Thừa . Trong đó gồm cả Ati yoga hay Dzgpa Chenpo (Đại Toàn Thiện)

15- De-Nyid , S. tathata . Cái như thế , như thị , bản tánh chân thật .

16- Yul-Drug . Sáu đối tượng của giác quan : sắc , thanh , hương , vị  xúc , và những biến cố của Tâm thức (Pháp) .

17- sZhungs-sKu , S. rupakaya . Sắc thân của Phật , nó là Báo thân và Hoá thân .

18- Chân lư tuyệt đối và chân lư tương đối .

19- dMigs-Med , S. nivaralamba . Tính không tuân thủ , không có mục đích .

20- Kun-gZhi , Z.alaya . A lại da thức .

21- A'od-gSal , S. abhasvara , prabhavara . Sự sáng tỏ , tịnh quang , định quang minh .

22- sKu-gNyis . Hai thân của Phật , thân tuyệt đối không có h́nh sắc (dharmakaya) và sắc thân (rupakaya) .

23- bZhi . Đọc là gZhi (căn bản) , nhưng theo Khyentsr Rinpoche nó phải đọc là bZhi tức là Bốn Thị Kiến Của Đại Toàn Thiện .

24- Nghĩa chỉ có một vị của công đức trong tính cách của con người .

25- sGo-gSum . Thân , Ngử , Tâm .

26- Yul-lNga . sắc , thinh , hương , vị và xúc .

27- Dal (-Ba) . Đời người tự do có tám phương diện :

Tự do thoát khỏi sự tái sanh trong những cơi địa ngục , quỷ đói , súc sanh , chư thiên sống lâu , người hoang dă , người tà kiến , trong một thế giới nơi không có Phật đă từng xuất hiện , làm một người ngu đần .

28- 'Byor (-Ba) . Một đời người thuận lợi có mười phú bẩm :

-   Sanh làm người .
-   Có đủ khả năng (Đủ mọi giác quan) .
-   Sanh trong một xứ sở trung tâm .
-   Có liên hệ với Pháp .
-   Không trở lại cuộc sống tà mạng .
-   Có niềm tin vào Phật pháp
-   Có Phật đă từng xuất hiện và thuyết Pháp .
-   Phật pháp đươc ǵn giử .
-   Người ta đă đi vào Phật pháp .
-   Đă được chấp nhận bởi một vị thầy thiêng liêng .

29- Thabs-Lam , S. upayamarga . Sự tu hành Mật truyền gồm những thân Kim cương của chính ḿnh và của những người khác .

30- Rigs-lNga'I sTon-Pa , S. Aksohya ( A-Súc) - Amogasiddhi

( Bất Không Thành Tựu ) - Ratnasambhava (Bảo Sanh) - Amitabha ( A-Di-Đà ) - Vajrocana ( Tỳ Lô Giá Na ) .

31- Dus-bZhi . Quá khứ , hiện tại , vị lai và thời-gian-không-thời-gian .

32- Dri-Med A'od-Zer . Một trong những tên của Kunkhyen Longchen Rabjam

Huyền Ân , mười hai tháng mười dương lịch hai không không một .

SAMAYA !
ẤN  NIÊM
SARVA  MANGALAM

Trở về đầu trang

 
 

 
 

Webmaster@maytrang.org